|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Nam
2. Bà Chu Hạ Uyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 79/2024/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Mỹ L, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Bà L có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Mỹ L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Mỹ L thừa nhận bà và chồng là ông Nguyễn Thành T chung sống với nhau năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 19/12/2017.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính cách không phù hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau. Đến năm 2019, do mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng nên vợ chồng đã không còn chung sống từ đó cho đến nay. Từ khi không còn chung sống, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Theo bà L, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phạm Bảo N, sinh ngày 30/12/2018. Khi ly hôn, bà L yêu cầu nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: Bà L xác nhận vợ chồng không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vẫn vắng mặt, do đó không có lời khai.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, đảm bảo khách quan, vô tư, đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng bà Phạm Mỹ L và Nguyễn Thành T đã thực sự rầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, cho bà L và ông T ly hôn.
Về con chung: Khi ly hôn bà L yêu cầu được nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu N cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Mỹ L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành T và tranh chấp về nuôi con là Nguyễn Phạm Bảo N, sinh ngày 30/12/2018. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Nguyễn Thành T có nơi cư trú tại: khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông T vắng mặt đến lần thứ hai nên Tòa án nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Xét yêu cầu khởi kiện được ly hôn của nguyên đơn thấy rằng, nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên được pháp luật công nhận. Cuộc sống chung giữa nguyên đơn và bị đơn không hạnh phúc với nhiều lý do khác nhau, không dung hòa được mâu thuẫn, bất đồng nên từ năm 2019 nguyên đơn và bị đơn không còn chung sống cho đến nay. Điều này được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, Hội đồng xét xử xem tình tiết này là sự thật. Mặt khác, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông T tham gia các phiên hòa giải nhưng ông T không có mặt, điều đó thể hiện ông T không có thiện chí hòa giải đoàn tụ gia đình. Như vậy, đủ căn cứ xác định, tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông T có 01 con chung là Nguyễn Phạm Bảo N, sinh ngày 30/12/2018. Từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau cho đến nay con chung sống với bà L, nay ly hôn bà L yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Xét yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên tạm thời miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bị đơn.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai trong thời kỳ hôn nhân không tạo lập nên khối tài sản chung; không vay mượn nợ ai và không cho ai vay nợ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Mỹ L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Mỹ L và ông Nguyễn Thành T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Mỹ L về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với ông Nguyễn Thành T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Mỹ L và ông Nguyễn Thành T ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phạm Bảo N, sinh ngày 30/12/2018 cho bà Phạm Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời ông T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.
Ông T có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Bà L xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Mỹ L phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà L đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004962 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
