Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trung Chính
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân

Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Công Q; sinh ngày: 16/3/1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số E đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Công C và bà: Lê Thị Lệ T; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q1.

(Bị cáo có mặt).

-Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Mai Ngọc Thiện M là Luật sư thuộc Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)

-Bị hại:

  1. Chị Trần Ngọc B, sinh năm 2000 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Chị Nguyễn Thanh T1, sinh năm 2000 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 2 đường N, Phường, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Chị Nguyễn Thị Tuyết M1, sinh năm 2002 (vắng mặt).
  6. Địa chỉ: B T, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Chị Nông Thị Thu T2, sinh năm 2001 (vắng mặt).
  8. Địa chỉ: F đường số A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

  9. Chị Trần Nguyễn Phi N, sinh năm 2002 (vắng mặt).
  10. Địa chỉ: B, tổ E, ấp C, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trương Công Q sử dụng các mạng xã hội như T3, Z với tài khoản tên “Quí” và “Halo”. Khoảng đầu tháng 01/2024 thông qua tài khoản trên mạng xã hội Facebook, Q kết bạn với chị Trần Ngọc B qua tính năng hẹn hò. Sau đó, bị cáo Q đã sử dụng tài khoản zalo tên “Quí” kết bạn với tài khoản của chị B tên “Bích Trần”. Bị cáo Q đề nghị hàng tháng sẽ trả cho chị B 20.000.000 đồng, mỗi tháng hai người gặp nhau để quan hệ tình dục 04 lần (mỗi lần bị cáo Q sẽ đưa 5.000.000 đồng). Chị B đồng ý. Ngày 17/01/2024, bị cáo Q cùng chị B vào 01 khách sạn ở trong 01 hẻm đường N, Quận E, TP . (không nhớ tên, địa chỉ cụ thể) để quan hệ tình dục. Khi đang ở khách sạn, bị cáo Q sử dụng điện thoại lén quay video clip khi chị B ở trong nhà tắm của khách sạn và khi chị B đang mặc váy ngủ màu đỏ. Ngày 20/01/2024, bị cáo Q chở B cùng đến thuê Phòng 404 tại khách sạn M3- số B T, Phường A, Quận A, quan hệ tình dục với nhau. Sau khi quan hệ tình dục với nhau, lợi dụng 02 lần chị B đi vào nhà tắm không để ý, bị cáo Q dùng điện thoại lén quay video, chụp hình ảnh chị B đi từ trong nhà tắm ra. Khoảng 02 ngày sau, chị B nhắn tin yêu cầu Q chuyển tiền trả cho chị B chi phí 02 lần quan hệ tình dục với nhau nhưng bị cáo Q nói không có tiền. Ngày 22/01/2024, chị B đã tự nguyện chuyển cho bị cáo Q số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V mang tên Trần Ngọc B đến số tài khoản “0789468002" M4 mang tên Lê Thị Lệ T, mục đích là chia trả tiền phòng khách sạn, tiền đi chơi vào các ngày 17 và 20/01/2024 cùng với bị cáo Q và chị B chặn kết bạn Zalo tên “Quí”. Ngày 22/01/2024, bị cáo Q sử dụng zalo tên “Halo” nhắn tin cho chị B với nội dung bị cáo Q có hình ảnh và clip của chị B khi ở khách sạn vào các ngày 17 và 20/01/2024 yêu cầu chị B chuyển số tiền 5.000.000 đồng cho bị cáo Q, nếu không chuyển bị cáo Q sẽ gửi hình ảnh, clip và đoạn hội thoại ghi âm của chị B nói xấu người quản lý tên N1 (tên thật là Mỹ L) cho đồng nghiệp chị B tại T S New Beauty C ở N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh biết. Đồng thời bị cáo Q đã gửi video và hai hình ảnh của chị B mà bị cáo Q đã lén quay chụp được qua cho chị B xem xong sau đó bị cáo Q đã thu hồi. Chị B trả lời không có tiền. Nhưng do lo sợ bị cáo Q sẽ phát tán các clip và hình ảnh của mình, chị B thương lượng chuyển tiền thành nhiều lần theo yêu cầu của bị cáo Q và bị cáo Q đồng ý. Ngày 31/01/2024, chị B đã chuyển khoản cho bị cáo Q số tiền 3.000.000 đồng, vào tài khoản số “0789468002” mang tên Lê Thị Lệ T mở tại M4. Chị B nhắn tin nói với bị cáo Q hẹn khi nào có lương sẽ chuyển cho bị cáo Q số tiền 2.000.000 đồng. Đến ngày 02/02/2024 chị B tiếp tục chuyển cho bị cáo Q số tiền 2.000.000 đồng đến tài khoản M5 mang tên Lê Thị Lệ T. Sau khi chuyển tiền cho bị cáo Q, chị B đã nhiều lần năn nỉ, van xin yêu cầu bị cáo Q xóa clip, hình ảnh, ghi âm lời nói của chị B mà bị cáo Q đã quay video, chụp lén được nhưng bị cáo Q không xóa mà tiếp tục đe dọa và nhiều lần yêu cầu chị B tiếp tục chuyển tiền cho bị cáo Q. Do lo sợ, ngày 26/02/2024 chị B đã chuyển cho bị cáo Q số tiền 600.000 đồng vào tài khoản số 19072289089014 mở tại T6 mang tên Lê Thị Lệ T; ngày 11/3/2024, chị B chuyển cho bị cáo Q số tiền 1.000.000 đồng và ngày 18/3/2024 bị cáo Q tiếp tục nhắn tin cho chị B hỏi mượn tiền, vì sợ bị cáo Q vẫn còn giữ clip và hình ảnh nên chị B chuyển cho bị cáo Q số tiền 300.000 đồng vào tài khoản T6 mang tên Lê Thị Lệ T. Tổng số tiền bị cáo Q đã chiếm đoạt của chị B là 6.900.000 đồng. Do nhiều lần bị bị cáo Q đe dọa, ngày 14/3/2024 chị B đã làm đơn tố giác hành vi của bị cáo Q đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1.

Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã khởi tố và ra Lệnh bắt bị cáo để tạm giam đối với bị cáo Trương Công Q về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 bị cáo Trương Công Q khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Trần Ngọc B như đã nêu trên.

Qua kết quả điều tra và lời khai nhận của bị cáo Trương Công Q còn xác định được, cùng với thủ đoạn tương bị cáo Trương Công Q đã thực hiện 04 vụ chiếm đoạt tài sản, thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 11/2023, bị cáo Q sử dụng zalo tên “Quí” kết bạn với tài khoản tên “Miu” của chị Nguyễn Thanh T1 - sinh năm: 2000; Thường trú: Ấp5, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, bị cáo Q thỏa thuận Thùy cho bị cáo Q quan hệ tình dục, bị cáo Q sẽ đóng tiền học phí cho chị T1. Ngày 01/01/2024, bị cáo Q và chị T1 gặp nhau tại khách sạn M3, Phường A, Quận A, quan hệ tình dục. Tại đây, bị cáo Q sử dụng điện thoại di động để quay lén hình ảnh khỏa thân của chị T1. Ngày 04/01/2024, bị cáo Q vay mượn của chị T1 số tiền 5.250.000 đồng. Sau đó, nhiều lần chị T1 đòi lại tiền nhưng bị cáo Q không trả. Ngày 30/01/2024, bị cáo Q gửi qua zalo cho T1 video có hình ảnh khỏa thân của chị T1 mà bị cáo Q đã quay lén vào ngày 01/01/2024. Bị cáo Q gọi zalo đe dọa chị T1 sẽ gửi các video đã quay được cho bạn bè, người thân của chị T1 xem biết, để chị T1 không dám đòi lại số tiền bị cáo Q đã vay mượn. Sau đó, qua số điện thoại của chị T1, bị cáo Q tìm được facebook của chị T1, bạn bè, người thân của chị T1. Bị cáo Q đe dọa sẽ gửi các hình ảnh, clip lên mạng hoặc cho người thân, bạn bè và thầy giáo của chị T1 yêu cầu chị T1 chuyển tiền cho bị cáo Q. Do lo sợ bị cáo Q phát tán các hình ảnh của mình, ngày 15/02/2024 T1 chuyển từ tài khoản số: 2800114951009 tên Nguyễn Thanh T1 đến tài khoản số: 0789468002 mang tên Lê Thị Lệ T cùng mở tại M5 số tiền 500.000 đồng; ngày 09/3/2024, tiếp tục chuyển số tiền 400.000 đồng và ngày 25/03/2024 chuyển số tiền 300.000 đồng đến tài khoản số 19072289089014 tên Lê Thị Lệ T mở tại T6. Tổng số tiền bị cáo Q đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thanh T1 là 6.450.000 đồng.

Vụ thứ 2: Khoảng đầu tháng 12/2023, bị cáo Q sử dụng tài khoản Zalo tên “Quí” kết bạn với tài khoản tên “My” của chị Nguyễn Thị Tiết M2 - sinh năm: 2002; Thường trú: Ấp C, T, T, Đồng Tháp. Q trao đổi, thỏa thuận về việc mua dâm, mỗi lần mua dâm bị cáo Q sẽ trả cho M2 số tiền là 5.000.000 đồng. Khoảng 17 giờ 00 ngày 09/12/2023, bị cáo Q cùng chị M2 đến thuê khách sạn tại Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ tên và địa chỉ) để quan hệ tình dục với nhau. Tại đây, bị cáo Q đã sử dụng điện thoại quay, chụp lén hình ảnh của chị M2 trong khi chị M2 đang đi trong phòng và quay video khi bị cáo Q cùng chị M2 đang khỏa thân tắm trong nhà tắm. Quan hệ tình dục xong cả hai đi về, chị M2 nhắn tin yêu cầu bị cáo Q trả lại Căn cước công của chị M2 mà bị cáo Q đang giữ thì bị cáo Q đã yêu cầu M2 phải chuyển cho bị cáo Q số tiền là 2.000.000 đồng vào tài khoản số 0789468002 mở tại M4 tên Lê Thị Lệ T. Lúc này, chị M2 hỏi tại sao phải chuyển tiền thì bị cáo Q đã gửi qua zalo cho chị M2 02 hình ảnh Q chụp lại từ video clip quay lén chị M2 đang quấn khăn và hình ảnh chị M2 khỏa thân trong nhà tắm mục đích cho chị M2 sợ mà chuyển tiền cho bị cáo Q. Lo sợ bị cáo Q phát tán hình ảnh cho bạn bè, người thân biết, ngày 10/12/2023 chị M2 đã chuyển số tiền 500.000 đồng từ tài khoản số: 0001018680677 tên Nguyễn Thị Tiết M2 mở tại V1 đến tài khoản số: 0789468002 tên Lê Thị Lệ T tại M4. Sau khi nhận được tiền của chị M2, bị cáo Q đã xóa các clip quay chị M2. Sau đó, bị cáo Q liên lạc với chị M2 để gặp trả lại căn cước công dân cho chị M2 nhưng chị M2 không đồng ý gặp nên Q để căn cước công dân ở bồn cây tại chung cư chị M2 đang ở tại Quận D, rồi nói cho chị M2 biết và đi về. Tổng số tiền bị cáo Q đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Tiết M2 là 500.000 đồng.

Vụ thứ 3: Khoảng đầu tháng 01/2024, bị cáo Q sử dụng tài khoản tên “Quí” làm quen và chat trên ứng dụng Tinder với tài khoản tên “Thảo” của chị Nông Thị Thu T2 - sinh năm: 2001; Thường trú: Thôn Đ, Đ, B, Bình Phước. Sau khi trò chuyện và thỏa thuận về việc mua bán dâm, mỗi lần mua dâm bị cáo Q sẽ trả cho chị T2 số tiền là 5.000.000 đồng. Sau đó, chị T2 sử dụng tài khoản zalo tên “Trần Đan T4” kết bạn với tài khoản zalo tên “Quí”. Bị cáo Q và chị T4 đã gặp nhau tại 01 khách sạn tại Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ tên khách sạn và địa chỉ cụ thể nữa) để quan hệ tình dục. Tại đây, bị cáo Q đã sử dụng điện thoại để quay, chụp lén hình ảnh của chị T4. Quan hệ tình dục xong cả hai đi về, bị cáo Q sử dụng zalo có nhắn tin gửi các video có hình ảnh khỏa thân cho chị T4 xem và gọi Z cho chị T4 yêu cầu phải chuyển cho bị cáo Q số tiền 2.000.000 đồng nếu không thực hiện theo yêu cầu của bị cáo Q thì sẽ chuyển video khỏa thân mà bị cáo Q đang giữ cho mẹ của T4 biết (bị cáo Q biết được tài khoản Facebook của mẹ T4 qua số điện thoại của T4 sử dụng). Chị T4 trả lời không có tiền, bị cáo Q yêu cầu chị T4 mượn tiền của bạn đưa cho bị cáo Q để không bị làm phiền nữa. Khi đang ở phòng khách sạn, bị cáo Q đã lấy giữ giấy căn cước công dân của chị T4 và yêu cầu chị T4 đưa tiền cho bị cáo Q để chuộc giấy tờ và xóa các video khỏa thân của T4 mà bị cáo Q đang giữ. Đến ngày 22/01/2024, T4 đã chuyển số tiền 450.000 đồng từ tài khoản số: 1770245623 mở tại Ngân hàng TMCP Đ (B1) tên Nông Thị Thu T2 đến tài khoản số: 0789468002 tên Lê Thị Lệ T. Sau khi thấy tài khoản đã nhận được tiền của T2 chuyển vào thì bị cáo Q đã đặt G trả lại giấy tờ cho chị T2. Số tiền bị cáo Q đã chiếm đoạt của chị T2 là 450.000 đồng.

Vụ thứ 4: Khoảng cuối tháng 01/2024, bị cáo Q sử dụng tài khoản Zalo tên “Quí” nhắn tin với tài khoản tên “Nhung”, của chị Trần Nguyễn Phi N - sinh năm: 2002; Thường trú: số F P, Phường A, Quận G, T5 . Hồ Chí Minh. Quá trình nhắn tin Q thỏa thuận chị N về việc mua dâm mỗi lần là 5.000.000 đồng, 01 tháng gặp 04 lần bị cáo Q sẽ trả Nhung 20.000.000 đồng. Theo như thỏa thuận, khoảng 13 giờ 30 ngày 29/01/2024, bị cáo Q và chị N gặp nhau tại khu dân cư T, B, Thành phố Hồ Chí Minh, thuê phòng của 01 khách sạn (không nhớ tên) để quan hệ tình dục. Bị cáo Q sử dụng điện thoại di động quay lén hình ảnh khỏa thân của chị N. Sau đó cả hai đi về, chị N có nhắn tin yêu cầu bị cáo Q thanh toán số tiền 5.000.000 đồng mua dâm nhưng bị cáo Q không trả nên chị N hủy kết bạn zalo với bị cáo Q. Ngày 30/01/2024, bị cáo Q tiếp tục sử dụng tài khoản tên “Quí” kết bạn Zalo với tài khoản của chị N và gửi các video bị cáo Q đã quay lén chị N trong khi đang ở cùng phòng khách sạn vào ngày 29/01/2024, và yêu cầu chị N chuyển cho bị cáo Q số tiền 2.000.000 đồng. Do lo sợ, cùng ngày theo yêu cầu của bị cáo Q, N đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản số: 0932072045 mở tại M4 tên Trần Nguyễn phi N đến tài khoản số: 0789468002 tên Lê Thị Lệ T. Thông qua số điện thoại 0932.072.xxx Nhung sử dụng thì bị cáo Q tìm được tài khoản mạng xã hội của chị N, tài khoản cá nhân của người thân trong gia đình của chị N, bị cáo Q tiếp tục nhắn tin đe dọa yêu cầu chị N phải gửi 5.000.000 đồng cho bị cáo Q, để xóa các video đã quay lén, nếu không chuyển tiền bị cáo Q sẽ gửi cho người thân của chị N xem, cùng ngày, chị N đã chuyển cho Q số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản M4 của N đến tài khoản M4 tên Lê Thị Lệ T. Đến ngày 14/02/2024, bị cáo Q rủ chị N đi chơi nhưng chị N trả lời không đồng ý. Bị cáo Q tiếp tục gửi hình ảnh trang cá nhân người thân của chị N đe dọa sẽ gửi các clip đó cho người thân của chị nhung xem và yêu cầu chị N nếu không đồng ý đi chơi thì phải chuyển cho bị cáo Q số tiền 3.000.000 đồng, đồng thời bị cáo Q yêu cầu chị N chụp hình khỏa thân của N rồi gửi cho bị cáo Q xem nhưng chị N không đồng ý. Chị N có nhắn tin thương lượng, thỏa thuận nói với bị cáo Q không có đủ tiền theo yêu cầu nên xin chỉ chuyển 2.000.000 đồng, bị cáo Q đã đồng ý. Ngày 14/02/2024, chị N đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng theo yêu cầu của bị cáo Q từ tài khoản M4 của N đến tài khoản số 19072289089014 mang tên Lê Thị Lệ T mở tại T6. Ngày 18/3/2024, bị cáo Q có nhắn tin yêu cầu chị N chuyển cho bị cáo Q số tiền 1.000.000 đồng nhưng do không có tiền chị N chỉ chuyển 500.000 đồng vào tài khoản tên Lê Thị Lệ T mở tại T6. Sau đó bị cáo Q đã xóa các clip đã quay chị N. Tổng số tiền bị cáo bị cáo Q đã chiếm đoạt của chị Trần Nguyễn Phi N là 9.500.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, bị cáo Trương Công Q thừa nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Tài khoản ngân hàng tên Lê Thị Lệ T là của mẹ bị cáo Q, bà T đưa căn cước công dân cho bị cáo Q đăng ký mở tài khoản và sử dụng. Bà T không biết bị cáo Q sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Lê Thị Lệ T khai cho con trai là bị cáo Q mượn căn cước công dân, việc bị cáo Q đăng ký mở tài khoản và sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội bà không biết. Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh, âm thanh buổi hỏi cung bị cáo Trương Công Q (lưu hồ sơ vụ án).
  • - 01 (một) USB dữ liệu giám định phục hồi trong điện thoại đã tạm giữ của Trương Công Q và chị Trần Ngọc B (lưu hồ sơ vụ án).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dương, Imei: 359481983526954 đã qua sử dụng, bị cáo Trương Công Q sử dụng vào việc phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

  • - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, imei: 353903108974310 đã qua sử dụng và cài đặt mật khẩu máy: 6868, không gắn thẻ sim, của chị Trần Ngọc B, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị B.

Về dân sự:

Gia đình bị cáo Q đã bồi thường cho chị Trần Ngọc B số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thanh T1 số tiền 6.450.000 đồng và chị Trần Nguyễn Phi N số tiền 9.500.000 đồng. Chị B, chị N và chị T1 không có ý kiến gì thêm; Chị Nông Thị Thu T2 và chị Nguyễn Thị Tiết M2 không yêu cầu bị cáo Q bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 127/CT-VKSQ10 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Trương Công Q về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm b, khoản 2, Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản điểm b, khoản 2, Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Trương Công Q từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
  • - Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo:

Về tội danh: Thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10.

Về khung hình phạt: Không thống nhất lý do bị cáo không phạm tội có tích chất chuyên nghiệp bởi vì tại thời điểm bị cáo phạm tội bị cáo vẫn có công ăn việc làm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10. Ngoài ra bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ bị hại có đơn xin bãi nại.

Về hình phạt: Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 nên đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng Điều 54 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo 01 năm tù.

  • - Ý kiến của bị cáo Q: Không có ý kiến gì bổ sung thêm.
  • - Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10

Về khung hình phạt:

Từ tháng 4 năm 2023 đến khi bị bắt thì bị cáo không có việc làm nên không có thu nhập nên Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị hại có đơn xin bãi nại là tình tiết tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên đề nghị Hội đồng xem xét chấp nhận.

Về hình phạt: Căn cứ vào tích chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa.

  • - Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của các bị hại, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Trương Công Q đã có hành vi 05 lần sử dụng các hình ảnh, video có nội dung nhạy cảm khống chế uy hiếp tinh thần của các bị hại chiếm đoạt số tiền 23.800.000 đồng, bị cáo lấy số tiền chiếm đọat làm nguồn thu nhập. Do vậy, bị cáo Trương Công Q bị truy tố và xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm b, khoản 2, Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự nên miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin bãi nại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Q đã bồi thường cho chị Trần Ngọc B số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thanh T1 số tiền 6.450.000 đồng và chị Trần Nguyễn Phi N số tiền 9.500.000 đồng. Chị B, chị N và chị T1 không có ý kiến gì thêm; Chị Nông Thị Thu T2 và chị Nguyễn Thị Tiết M2 không yêu cầu bị cáo Q bồi thường nên Hội đồng xét xử không có gí để giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dương, I: 359481983526954, thu giữ của bị cáo Q. Xét thấy đây là tài sản bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 170; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Trương Công Q 04 (bốn) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

Miễn phạt bổ sung bị cáo Trương Công Q

Tịch thu nộp ngân sáng nhà nước đối với 01 điện thoại hiệu Iphone 13 Promax màu xanh dương, I: 359481983526954.

(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/11/2024 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Trương Công Q chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với các bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự../.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Q.10; (2)
  • - Công an Q.10; (2)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Công Quý phạm tội Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger