|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-PT Ngày: 26/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Túc
Bà Hoàng Ngọc Liễu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Đức Hạnh – Kiểm sát viên
Ngày 26/8/2024, tại trụ Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 51/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối bị cáo Nguyễn Thị Đ, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 12/02/1970 tại Hòa Bình.
Nơi cư trú: Xóm D, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn M, con bà Bùi Thị H; có chồng là Trần Quốc H1 (đã ly hôn) và 03 con (lớn nhất 34 tuổi, nhỏ nhất 14 tuổi).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình) xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích. (Đã được xóa án tích)
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2023 đến nay, hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Được trích xuất có mặt.
Ngoài ra vụ án còn một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Đ có đăng ký kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ và karaoke tại địa chỉ xóm D, xã M, thành phố H. Qúa trình hoạt động, Đ1 còn cho một số đối tượng gái bán dâm ăn ở tại địa chỉ kinh doanh và bán dâm cho khách, cụ thể: Khoảng cuối tháng 11/2023, Hoàng Thị Bích P, Hà Thị Đ2, Đinh Thị Thanh T đến gặp Nguyễn Thị Đ đặt vấn đề xin làm nhân viên phục vụ, nếu có khách mua dâm thì những người này sẽ bán dâm tại cơ sở của Đ và thỏa thuận ăn chia là mỗi lần bán dâm sẽ thu 250.000 đồng, Nguyễn Thị Đ được hưởng 150.000 đồng, gái bán dâm được hưởng 100.000 đồng, hình thức thu tiền cso lần do Đ thu, có lần gái bán dâm thu bằng tiền mặt hoặc khách chuyển khoản sau đó sẽ ăn chia theo thỏa thuận, Đ chịu trách nhiệm lo ăn ở cho gái bán dâm.
Khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 08/12/2023, Đinh Văn H2 và Bùi Tiến D đến nhà nghỉ V đặt vấn đề với Nguyễn Thị Đ cung cấp gái bán dâm, thỏa thuận giá mua bán dâm 250.000 đồng/lần. H2 đã đưa cho Đ 500.000 đồng để mua dâm cho 2 người, sau đó D được xếp vào phòng số 03, H2 được xếp vào phòng số 4 của nhà nghỉ V. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang mua bán dâm thì bị tổ công tác Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra, các đối tượng khai nhận: Từ đầu tháng 12/2023, tại nhà nghỉ V, Hoàng Thị Bích P đã bán dâm cho khách 5 lần thu được 1.250.000 đồng, P được hưởng 400.000 đồng do lần bị bắt quả tang chưa chia tiền; Hà Thị Đ2 bán dâm cho khách 5 lần (trong đó Đinh Văn H2 ngày 08/12/2023, số tiền còn lại chưa xác định được người mua dâm) thu được 1.250.000 đồng, được hưởng 400.000 đồng do lần bị bắt quả tang chưa chia tiền; từ tháng 11/2023, Đinh Thị Thanh T bán dâm 6 lần, không xác định được người mua dâm, thu 1.500.000 đồng, được hưởng 600.000 đồng. Tổng số lần bán dâm tại nhà nghỉ V là 16 lần, thu số tiền 4.000.000 đồng, Đ chiếm hưởng và quản lý số tiền 2.600.000 đồng (trong đó có 500.000 đồng thu ngày 08/12/2023).
Qúa trình điều tra, Đ còn khai nhận hành vi cho vay lãi nặng, cụ thể như sau:
- Ngày 08/7/2023, Đ cho anh Cao Xuân H3 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời gian vay từ 08/7/2023 đến 13/11/2023.
- Nguyễn Thị Đ cho chị Nguyễn Thị Quỳnh M1 vay tiền 4 lần, cụ thể:
- Lần 1: Ngày 06/01/2021, Đ cho M1 vay 10 triệu đồng, lãi suất thỏa thuận là 7.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời gian vay từ 06/01/2021 đến 14/01/2022.
- Lần 2: Ngày 30/3/2022, Đ cho M1 vay 10 triệu đồng, lãi suất thỏa thuận là 7.000 đồng/1 triệu/ 1 ngày, thời gian vay từ 30/3/2022 đến 10/6/2022.
- Lần 3: Ngày 26/4/2022, Đ cho M1 vay 10 triệu đồng, lãi suất thỏa thuận là 7.000 đồng/ 1 triệu/1 ngày, thời gian vay từ 26/4/2021 đến 10/6/2022.
- Lần 4: Ngày 28/12/2022, Đ cho M1 vay 10 triệu đồng, lãi suất thả thuận là 7.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời gian vay từ 28/12/2022 đến 13/01/2023.
- 3, Nguyễn Thị Đ cho chị Nguyễn Thị B vay tiền 3 lần, cụ thể:
- Lần 1: Ngày 25/5/2023, Đ cho M1 vay 10 triệu đồng, ngày 26/5/2023 cho vay thêm 10 triệu đồng, tính gộp gốc là 20 triệu đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1 triệu/ 1 ngày, thời gian vay từ 25/5/2023 đến 15/7/2023.
- Lần 2: Ngày 17/7/2023, Đ cho M1 vay 10 triệu đồng, cộng khoản vay cũ 20 triệu đồng, tính gộp gốc là 30 triệu đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1 triệu/ 1 ngày, thời gian vay từ 17/7/2023 đến 16/9/2023.
- Lần 3: Ngày 16/9/2023, Đ cho M1 vay 10 triệu đồng, công khoản vay vũ 30 triệu đồng, tính gộp gốc là 40 triệu đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1 triệu/1 ngày, thời gian vay từ 16/9/2023 đến 06/12/2023.
Tổng tiền lãi anh H3 đã trả cho Đ là 6 triệu đồng; mức lãi 169,77%/năm, vượt quá 8,49 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền thu lời bất chính là 5.293.151 đồng. Đến nay anh H3 đã trả hết số tiền gốc là 10.000.000 đồng cho Đ.
Tổng tiền lãi chị M1 đã trả cho Đ là 25 triệu đồng và thanh toán xong nợ gốc; mức lãi suất là 243,98%/ năm, vượt 12,2 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự. Thu lời bất chính số tiền 22.950.685 đồng
Tổng tiền lãi chị M1 đã trả cho Đ là 5 triệu đồng và thanh toán xong nợ gốc. Mức lãi suất là 250%/năm, vượt quá 12,5 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền thu lời bất chính là 4.600.000 đồng.
Tổng tiền lãi chị M1 đã trả cho Đ là 3 triệu đồng và thanh toán xong nợ gốc. Mức lãi suất là 238,04%/năm, vượt quá 11,9 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền thu lời bất chính là 2.747.945 đồng.
Tổng tiền lãi chị M1 đã trả cho Đ là 1,2 triệu đồng và thanh toán xong nợ gốc. Mức lãi suất là 257,65%/năm, vượt quá 12,88 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền thu lời bất chính là 1.106.849 đồng.
Tổng số tiền Đ đã thu lời bất chính từ chị M1 là 31.405.479 đồng; số tiền gốc 40 triệu đồng, chị M1 đã trả xong hết cho Đ.
Tổng tiền lãi chị B đã trả cho Đ là 5 triệu đồng, tiền gốc Bảy chưa trả; mức lãi suất là 175,48%/năm, vượt quá 8,77 lần mức lãi suất cao nhât được quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền lãi Đ thu lời bất chính là 4.430.137 đồng
Tổng tiền lãi chị B đã trả cho Đ là 9 triệu đồng, tiền gốc chị B chưa trả; mức lãi suất là 171,61%/ năm vượt quá 8,83 lần mức lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự. Số tiền lãi Đ đã thu lời bất chính là 7.980.822 đồng.
Tổng tiền lãi chị B đã trả cho Đ là 16 triệu đồng, tiền gốc Bảy chưa trả cho Đ; mức lãi suất là 178,05%/năm, vượt quá 8,9 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự. Tổng tiền lãi Đ đã thu lời bất chính là 14.202.740 đồng.
Tổng số tiền Đ thu lời bất chính từ chị B là 26.613.699 đồng; số tiền gốc 40 triệu đồng, chị B chưa trả cho Đ.
Công văn số 02/TTGSNH ngày 04/01/2024 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H xác nhận: “Số tiền lãi Nguyễn Thị Đ đã thu là 70.200.000 đồng (trong đó số tiền lãi tối đa theo Bộ luật Dân sự mà Đ được hưởng là 6.887.671 đồng; số tiền vượt so với mức tối đa theo Bộ luật Dân sự mà Đ đã thu là 63.312.329 đồng) với lãi suất thấp nhất là 169,77%/năm, lãi suất cao nhất là 257,65%/năm; vượt từ 8,49 đến 12,88 lần lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự”
Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình quyết định: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 327; khoản 1 Điều 201; điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 36, Điều 54, Điều 55, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tuyên bố Nguyễn Thị Đ phạm tội “Chứa mại dâm” và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt 36 (ba mươi sáu” tháng tù về tội Chứa mại dâm; 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ (chuyển đổi thành 03 tháng tù) về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tổng hợp hình phạt, buộc Nguyễn Thị Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27/6/2024, bị cáo Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khẳng định quá trình điều tra, truy tố, xét xử của cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ hành vi phạm tội, nhân thân các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử phạt 36 (ba mươi sáu” tháng tù về tội Chứa mại dâm; 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ (chuyển đổi thành 03 tháng tù) về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tổng hợp hình phạt, buộc Nguyễn Thị Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 39 (ba mươi chín) tháng tù là có căn cứ, đúng người đúng pháp luật. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đ là không có căn cứ.
Từ các căn cứ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Đ không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thị Đ là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Đ đã có hành vi chứa mại dâm, nuôi ăn ở và sử dụng địa điểm là nhà nghỉ V thuộc sở hữu của Đ để 03 gái bán dâm thực hiện hành vi mua bán dâm với tổng 16 lần trong nhiều ngày, hưởng lợi bất chính số tiền 2.600.000₫.
Ngoài ra, Nguyễn Thị Đ còn thực hiện hành vi cho người khác vay tiền với mức lãi suất cao. Từ tháng 01 năm 2021 đến 06/12/2023 thông qua giao dịch dân sự, Đ đã cho 03 người vay tổng số tiền 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng) với mức lãi suất thấp nhất là 169,77%/năm và cao nhất là 257,65%/năm; vượt mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự từ 8,49 đến 12,88 lần. Nguyễn Thị Đ đã thu lời bất chính số tiền lãi là 63.312.329₫ (Sáu mươi ba triệu, ba trăm mười hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng)
Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xét xử bị cáo về tôị “Chứa mại dâm” và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng muốn thu lời bất chính, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm tới chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an của địa phương, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các hành vi mà bị cáo đã thực hiện; xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để xử phạt với mức hình phạt 39 tháng tù là phù hợp, đảm bảo tính nghiêm khắc răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 63.312.000 đồng, tiền tu lời bất chính, ngoài ra bị cáo là mẹ đơn thân phải nuôi mẹ già và 3 con, bản thân thường xuyên ốm đau bệnh tật, đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó có căn cứ để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Việt Nam.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, bị cáo Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự; Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Đ, sửa bản án sơ thẩm số 76/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; cụ thể:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 327; Khoản 1 Điều 201; điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 36; Điều 54; Điều 55; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Tuyên xử:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù về tội Chứa mại dâm; 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ (chuyển đổi thành 03 tháng tù) về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tổng hợp hình phạt, buộc Nguyễn Thị Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.
2, Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm h Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3, Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4, Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |
Bản án số 29/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về hình sự phúc thẩm (tội chứa mại dâm và tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 29/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Chứa mại dâm và Tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa khách quan
