Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-4-2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Đợi, ông Nguyễn Thanh Sơn.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa:

  • Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1997; nơi cư trú: số B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
  • Bị đơn: Ông Bùi Thanh H1, sinh năm 1999; nơi cư trú: số B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
  • Bà H, ông H1 vắng mặt tại phiên tòa (bà H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà H và ông H1 tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 5 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Sau khi kết hôn, ông H1 chuyển hộ khẩu về cùng với gia đình bà H địa chỉ số B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, nhưng vợ chồng đi làm và sinh sống tại tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, H1 cờ bạc gây nợ nần cho gia đình, nhiều lần gia đình khuyên bảo hàn gắn nhưng H1 không thay đổi, công việc không ổn định, không phụ giúp kinh tế gia đình và nuôi dạy con chung. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống với nhau, hôn nhân không thể hàn gắn, tình cảm không còn nên bà Trần Thị H yêu cầy ly hôn với Bùi Thanh H1.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Trần Thị H và ông Bùi Thanh H1 có 01 (một) con chung tên Bùi Trần Gia H2, sinh ngày 21/9/2019. Bà H yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho ông Bùi Thanh H1 (do người thân nhận), do ông H1 vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt nhiều lần không lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị H được ly hôn với ông Bùi Thanh H1; về con chung: bà H được nuôi dạy con chung tên Bùi Trần Gia H2, sinh ngày 21/9/2019, ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

  1. Về thẩm quyền: Bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi Thanh H1. Ông H1 có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Trần Thị H vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt, bị đơn ông Bùi Thanh H1 đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Trần Thị H và ông Bùi Thanh H1 tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 04 tháng 5 năm 2019 nên là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Tòa án ghi nhận ý kiến bà Trần Thị T (là mẹ ruột của H), trình bày: vợ chồng H, H1 thường xuyên mâu thuẫn do H1 cờ bạc gây nợ nần cho gia đình. Cuối tháng 12/2023 (âm lịch), H1 có về nhà và biết việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn nhưng hợp không đồng ý và muốn hàn gắn tình cảm, tuy nhiên mâu thuẫn đã lâu, gia đình nhiều lần khuyên ngăn, hàn gắn nhưng H1 không thay đổi. Về con chung: vợ chồng có 01 (một) con chung tên Bùi Trần Gia H2 sinh ngày 21/9/2019, hiện bà T đang chăm sóc, nuôi dạy, H đi làm tại tỉnh Bình Dương và có gửi tiền về hỗ trợ việc nuôi dạy con chung.

Qua xác minh tại khóm V, phường V, thành phố C cung cấp ông Bùi Thanh H1 có đăng ký thường trú tại tổ H, khóm V, phường V, thành phố C và sinh sống tại nhà của bà Trần Thị T (mẹ của bà H), nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương do đi làm ăn xa. Thời gian gần đây, H1 và H không cùng nhau về thăm gia đình mà chỉ về riêng. H và H1 có 01 con chung tên Bùi Trần Gia H2 sinh ngày 21/9/2019, hiện do bà T (mẹ ruột H) đang chăm sóc nuôi dạy.

Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và có nghĩa vụ chung sống với nhau nhưng bà H, ông H1 đã xảy ra mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau, gia đình hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của bà H và ông H1 là trầm trọng, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc ly hôn với ông H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  1. Về con chung: Bà H, ông H1 có 01 (một) con chung tên Bùi Trần Gia H2, sinh ngày 21/9/2019. Bà H yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

Nhận thấy, cháu Bùi Trần Gia H2 sống cùng với gia đình bà H từ nhỏ, được gia đình bà H chăm sóc và nuôi dạy, bà H đi làm cung cấp tiền để nuôi dạy con. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Bùi Trần Gia H2, sinh ngày 21/9/2019 cho bà H tiếp tục nuôi dạy cho đến tuổi trưởng thành, ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Trần Thị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Bùi Thanh H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: bà H1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp. Ông Bùi Thanh H1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H, sinh năm 1997 được ly hôn với ông Bùi Thanh H1, sinh năm 1999.
  2. Về con chung: Bà Trần Thị H được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Bùi Trần Gia H2, sinh ngày 21/9/2019 cho đến tuổi trưởng thành. Ông Bùi Thanh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Trần Thị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Bùi Thanh H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003556 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bà Trần Thị H đã nộp đủ án phí.

Ông Bùi Thanh H1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  1. Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 04/5/2019 của Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
  2. Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo của bà Trần Thị H và ông Bùi Thanh H1 vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger