TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HS-ST
Ngày: 26/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Thẩm phán phiên tòa: Bà Lê Thị Thái Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Công Trí, ông Nguyễn Ngọc Uyên và ông Trần Quang Đạt.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ân – Kiểm sát viên Trung cấp.
Vào ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Duy Huỳnh Nhật L, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1994 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12, giới tính: Nữ, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Duy N, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm 1971, sống chung như vợ chồng với Trần Ngọc T, sinh năm 1990, tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/9/2023 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh P, có mặt tại phiên tòa.
- Trịnh Minh T1, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1985 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12 (bị cáo khai tại phiên tòa: 11/12), giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Trịnh K, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị T2 (chết), có vợ tên Ngô Thị Minh H, sinh năm 1984 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Duy Huỳnh Nhật L: Ông Phạm Hồng P, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P, địa chỉ: G N, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
*Người bị hại:
- Châu Thị Hồng H1, sinh năm 1989, nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Nguyễn Minh T3, sinh năm 1979, nơi cư trú: A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1961, nơi cư trú: 1 N, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Trần Ngọc T, sinh năm 1990, nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Duy Huỳnh L2, sinh năm 1992, nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm 1971, nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Duy N, sinh năm 1968, nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Huỳnh H3, sinh năm 1964, nơi cư trú: A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Ngô Thị Kim X, sinh năm 1992, nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Huỳnh Thị D, sinh năm 1969, nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Nguyễn Thành C, sinh năm 2000, nơi cư trú: A N, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Phạm Tiến D1, sinh năm 1992, nơi cư trú: Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Duy Huỳnh Nhật L và Trần Ngọc T sống chung với nhau như vợ chồng, L biết T không có nhiều tiền, do cần tiền tiêu xài và trả nợ cá nhân nên L nói dối và lợi dụng T, thông qua T để T vay tiền đưa cho L, T tin thật nên vay tiền của nhiều người. Để những người cho vay tin tưởng tiếp tục cho vay, L dùng một phần tiền vay trả tiền lãi cho khoản vay trước nên từ tháng 9/2020 đến tháng 6/2022, T vay tiền của Châu Thị Hồng H1, Nguyễn Thị Kim H2, Nguyễn Minh T3 và Trịnh Minh T1 đưa cho L 1.859.000.000 đồng; với thủ đoạn như trên, L trực tiếp nói dối vay của H1 581.000.000 đồng. Tổng số tiền Lệ chiếm đoạt là 2.440.000.000 đồng, cụ thể:
Đối với Châu Thị Hồng H1: Lệ nói dối với T là mẹ và cậu của L bị bệnh nên cần tiền chữa bệnh và cho người khác vay lại để hưởng lãi suất chênh lệch, T tin thật, từ tháng 9/2020 đến tháng 3/2022, T hỏi vay tiền H1 để chữa bệnh cho mẹ và cậu của L, H1 tin thật cho T vay nhiều lần với tổng số tiền 1.004.000.000 đồng, T đưa cho L, khi T đi vay L đi cùng, L quen biết H1 nên từ tháng 11/2020 đến ngày 10/3/2022, L nói dối với H1 cần tiền chữa bệnh cho mẹ và cho người khác vay lại để hưởng lãi suất chênh lệch, H1 tin thật cho L vay nhiều lần với tổng số tiền 581.000.000 đồng. Lệ chiếm đoạt của H1 1.585.000.000 đồng.
Đối với Trịnh Minh T1: Lệ nói dối với T cần tiền cho người khác vay lại để hưởng lãi suất chênh lệch, T tin thật nên từ ngày 22/01/2021 đến ngày 28/4/2022, T 11 lần hỏi vay Trịnh Minh T1 để Lệ đáo hạn ngân hàng, T1 tin thật cho T vay với tổng số tiền 455.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (120%/ năm), T đưa tiền cho L, đã trả cho T1 513.500.000 đồng tiền lãi, T1 thu lợi bất chính 420.083.334 đồng, trong đó có 05 khoản vay, T1 thu lợi từ 30.000.000 đồng trở lên. Lệ chiếm đoạt của T1 455.000.000 đồng.
Đối với Nguyễn Minh T3: Ngày 19/4/2022, L nói dối với T cần 250.000.000 đồng để trả nợ mà anh của L đã vay trả tiền chữa bệnh cho mẹ của L, để T tin, L tạo tài khoản zalo giả danh anh của L nhắn tin cho T xác nhận những gì L nói là thật nên T tin, biết Nguyễn Minh T3 cho vay đáo hạn ngân hàng, T hỏi vay T3 để đáo hạn ngân hàng, T3 tin thật cho T vay 250.000.000 đồng, T đưa tiền cho L. Lệ chiếm đoạt của T3 250.000.000 đồng.
Đối với Nguyễn Thị Kim H2: Cuối tháng 6/2022, L nói dối với T cần 120.000.000 đồng để trả tiền viện phí cho cha của L bị tai nạn giao thông khi chăm sóc mẹ của L bị bệnh, để T tin, L sử dụng zalo giả danh anh của L nhắn tin cho T xác nhận những gì L nói là thật và gửi cho T hình ảnh một người đàn ông nằm cấp cứu nên T tin. T và L gặp H1 hỏi vay tiền nhưng H1 không có tiền, H1 biết H2 cho vay tiền đáo hạn ngân hàng nên giới thiệu L và T vay tiền H2 và yêu cầu L trả 30.000.000 đồng mà L đã mượn trước đó; L, T hỏi vay H2 để đáo hạn ngân hàng, H2 tin thật nên cho L vay 150.000.000 đồng. Lệ chiếm đoạt của H2 150.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSPY-P1 ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Duy Huỳnh Nhật L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Trịnh Minh T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Khoản 2, Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
* Các bị cáo Duy Huỳnh Nhật L, Trịnh Minh T1 vẫn khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng.
* Các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều khai về tình tiết vụ án như nội dung Cáo trạng đã nêu.
* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Duy Huỳnh Nhật L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo Trịnh Minh T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Về Hình phạt:
+ Áp dụng Điểm a, Khoản 4, Điều 174; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự, phạt: Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L từ 12 (mười hai) năm đến 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 15/9/2023).
+ Áp dụng Khoản 2, Khoản 3, Điều 201; Điểm b, s, K, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự, phạt: Bị cáo Trịnh Minh T1 từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo T1 từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ.
Trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L và bị hại Châu Thị Hồng H1, của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T.
- Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L có trách nhiệm bồi thường cho Châu Thị Hồng H1 số tiền 581.000.000đ, bị cáo đã bồi thường trước số tiền 50.000.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 531.000.000đ (Năm trăm ba mươi mốt triệu đồng).
Châu Thị Hồng H1 được nhận số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) do bị cáo Duy Huỳnh Nhật L bồi thường theo Biên lai số 0000851 ngày 19/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L có trách nhiệm hoàn trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.859.000.000đ, bị cáo đã hoàn trả trước số tiền 50.000.000đ nên còn phải tiếp tục hoàn trả số tiền 1.809.000.000đ (Một tỷ, tám trăm lẻ chín triệu đồng).
Trần Ngọc T được nhận số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) do bị cáo Duy Huỳnh Nhật L hoàn trả theo Biên lai số 0000852 ngày 19/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
Ghi nhận sự tự nguyện của Trần Ngọc T về việc rút yêu cầu đòi bị cáo Duy Huỳnh Nhật L hoàn trả số tiền 245.000.000đ đã cho Duy Huỳnh Nhật L mượn trong vụ án này mà sẽ khởi kiện bằng 1 vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm a, Khoản 1, Điều 46; Điểm a, b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc) là tài sản dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, số tiền cho vay có tính chất xoay vòng, sau khi bị cáo Duy Huỳnh Nhật L trả tiền, bị cáo Trịnh Minh T1 tiếp tục lấy tiền này cho Trần Ngọc T vay lại để đưa cho bị cáo Duy Huỳnh Nhật L, nên xác định số tiền gốc bị cáo Trịnh Minh T1 cho vay là số tiền nhiều nhất trong các lần cho vay tương ứng với số tiền 70.000.000 đồng mà bị cáo Trịnh Minh T1 cho Trần Ngọc T vay vào tháng 5/2021. Do đó, cần sung quỹ Nhà nước số tiền gốc của bị cáo Trịnh Minh T1 cho vay là 70.000.000 đồng. Buộc bị cáo Trịnh Minh T1 phải nộp lại phương tiện phạm tội là khoản tiền cho vay (tiền gốc) 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Buộc bị cáo Trịnh Minh T1 phải nộp lại khoản tiền lãi phát sinh từ tội phạm, tương ứng với mức lãi suất 20%/năm, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 93.416.666đ (Chín mươi ba triệu, bốn trăm mười sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Buộc bị cáo Trịnh Minh T1 phải nộp lại số tiền 305.416.667đ là khoản tiền lãi trên 20%/năm mà bị cáo T1 thu lợi bất chính từ bị cáo Duy Huỳnh Nhật L để sung quỹ Nhà nước
- Buộc bị cáo Trịnh Minh T1 trả lại cho Trần Ngọc T số tiền 114.666.667₫ là khoản tiền lãi trên 20%/năm mà bị cáo T1 thu lợi bất chính từ Trần Ngọc Thương. Bị cáo Trịnh Minh T1 tự nguyện dùng số tiền 50.000.000 đồng bị tạm giữ để khắc phục hậu quả cho Trần Ngọc T nên bị cáo Trịnh Minh T1 còn phải trả lại cho Trần Ngọc T số tiền 64.666.667đ (Sáu mươi bốn triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
Trần Ngọc T được nhận số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) do bị cáo T1 nộp khắc phục hậu quả theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số [...] của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P do Điều tra viên Huỳnh Phước X1 nộp ngày 15/01/2024.
Xử lý vật chứng: Áp dụng 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 (một) xe mô tô hiệu SH Mode màu đỏ đen, biển số 78C1 – 706.26 (kèm chìa khóa xe mô tô); - 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 78C1 – 706.26, thu giữ của Duy Huỳnh Nhật L;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xanh (được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký của Điều tra viên Huỳnh Phước X1, hình dấu mộc của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P và chữ ký của Duy Huỳnh Nhật L), thu giữ của Duy Huỳnh Nhật L, bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
* Người bào chữa của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L là Luật sư Phạm Hồng P trình bày: Thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho bị hại H1 số tiền 50.000.000đ, hoàn trả cho Trần Ngọc T số tiền 50.000.000đ và đồng ý dùng giá trị
xe mô tô biển số 78C1-706.26 bị thu giữ để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bị hại anh T3, bị hại bà H2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
Quá trình đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí với lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo L, giữ nguyên quan điểm. Các bị cáo nói lời sau cùng đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, tuy nhiên, những người này đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Duy Huỳnh Nhật L, Trịnh Minh T1 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm phạm tội, cách thức thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 9/2020 đến tháng 06/2022, trên địa bàn tỉnh Phú Yên, Duy Huỳnh Nhật L đã thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt của 04 người tổng cộng 2.440.000.000₫, trong đó: chiếm đoạt của Châu Thị Hồng H1 số tiền 1.585.000.000đ, chiếm đoạt của Nguyễn Minh T3 số tiền 250.000.000đ, chiếm đoạt của Nguyễn Thị Kim Hằng s tiền 150.000.000đ, chiếm đoạt của Trịnh Minh T1 số tiền 455.000.000đ. Trịnh Minh T1 đã có hành vi 11 lần cho Trần Ngọc T vay tiền với lãi suất 120%/năm, thu lợi bất chính số tiền 420.083.334đ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Duy Huỳnh Nhật L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Trịnh Minh T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Khoản 2, Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của nhiều người, hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Minh T1 xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế về hoạt động tín dụng, mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đồng thời gây mất trật tự trị an - an toàn xã hội ở địa phương. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử, thấy:
[3.1] Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt tiền của nhiều người tổng số tiền 2.440.000.000đ để tiêu xài cá nhân và trả nợ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho bị hại Châu Thị Hồng H1 số tiền 50.000.000đ, hoàn trả cho Trần Ngọc T số tiền 50.000.000đ; bị cáo đồng ý dùng giá trị xe mô tô loại SH Mode biển số 78C1-706.26 bị thu giữ của bị cáo để khắc phục hậu quả; bản thân bị cáo là phụ nữ, có nhân thân tốt, bị cáo có ông ngoại ruột Huỳnh X2 đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng nhất vào ngày 13/12/1996; quá trình tham gia sinh hoạt Đoàn tại địa phương bị cáo có nhiều thành tích tốt, tích cực trong các hoạt động phong trào đoàn, hoạt động thanh niên và công tác xã hội tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận; tại phiên tòa, bị cáo được các bị hại Nguyễn Minh T3, Nguyễn Thị Kim H2 xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng quy định tại Khoản 1, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Điều luật quy định để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[3.2] Bị cáo Trịnh Minh T1 đã 11 lần cho Trần Ngọc T vay tổng số tiền 455.000.000đ, với mức lãi suất 120%/năm, thu lợi bất chính số tiền 420.083.334đ, gấp hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự. Trong đó, bị cáo có 05 lần thu lợi bất chính số tiền trên 30.000.000đ nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội do bị cáo Duy Huỳnh Nhật L thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chứ không phải chiếm đoạt tài sản từ chính hoạt chuyển nghiệp hoặc được hình thức bằng ô nhiễm. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Minh T1 luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng ý dùng số tiền 50.000.000 đồng của bị cáo bị tạm giữ trong tài khoản của Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả cho Trần Ngọc T, thể hiện thái độ được sự ăn năn hối cải. Bị cáo Trịnh Minh T1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng quy định tại Khoản 2, Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày
20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại Châu Thị Hồng H1 yêu cầu bị cáo Duy Huỳnh Nhật L trả lại số tiền 581.000.000đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T yêu cầu bị cáo Duy Huỳnh Nhật L hoàn trả số tiền 1.859.000.000đ. Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L đồng ý trả cho Châu Thị Hồng H1 số tiền 581.000.000đ và hoàn trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.859.000.000đ. Xét sự thỏa thuận nêu trên của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L và bị hại Châu Thị Hồng H1, của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận.
Đối với số tiền 245.000.000₫ Trần Ngọc T đã cho Duy Huỳnh Nhật L vay là giao dịch dân sự nên Trần Ngọc T có quyền khởi kiện Duy Huỳnh Nhật L để đòi lại số tiền 245.000.000đ này bằng 1 vụ kiện dân sự khác.
[5] Biện pháp tư pháp:
Từ ngày 22/01/2021 đến ngày 28/4/2022, bị cáo Trịnh Minh T1 đã cho Trần Ngọc T vay tổng số tiền 455.000.000 đồng, với mức lãi suất 10%/tháng (tương đương 120%/ năm), tổng số tiền lãi bị cáo Trịnh Minh T1 đã nhận của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L và Trần Ngọc T đưa là 513.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự 20%/năm là 93.416.666 đồng, số tiền lãi bị cáo Trịnh Minh T1 thu lợi bất chính vượt 20%/năm là 420.083.334 đồng.
[5.1] Đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc) là tài sản dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, số tiền cho vay có tính chất xoay vòng, sau khi bị cáo Duy Huỳnh Nhật L trả tiền, bị cáo Trịnh Minh T1 tiếp tục lấy tiền này cho Trần Ngọc T vay lại để đưa cho bị cáo Duy Huỳnh Nhật L, nên xác định số tiền gốc bị cáo Trịnh Minh T1 cho vay là số tiền nhiều nhất trong các lần cho vay tương ứng với số tiền 70.000.000 đồng mà bị cáo Trịnh Minh T1 cho Trần Ngọc T vay vào tháng 5/2021. Do đó, buộc bị cáo Trịnh Minh T1 phải nộp lại tài sản dùng vào việc phạm tội là khoản tiền cho vay (tiền gốc) 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
[5.2] Đối với khoản tiền lãi 93.416.666đồng, tương ứng với mức lãi suất 20%/năm, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây lại là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cũng buộc bị cáo Trịnh Minh T1 nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
[5.3] Đối với khoản tiền lãi 420.083.344đ, tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm, là khoản tiền mà bị cáo Trịnh Minh T1 thu lợi bất chính gồm: Số tiền 305.416.667₫ mà bị cáo Duy Huỳnh Nhật L đã trả lãi từ tháng 01/2021 đến tháng 5/2022 cho bị cáo T1 là khoản tiền liên quan đến hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo L nên không buộc bị cáo T1 trả lại cho bị cáo L mà buộc bị cáo T1 phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước. Số tiền 114.666.667đ do Trần Ngọc T trả lãi từ tháng 6/2022 đến tháng 9/2022 cho bị cáo T1 nên buộc bị cáo
T1 trả lại cho Trần Ngọc T số tiền 114.666.667₫. Bị cáo T1 tự nguyện dùng số tiền 50.000.000 đồng bị tạm giữ để khắc phục hậu quả cho Trần Ngọc T nên bị cáo Trịnh Minh T1 còn phải trả lại cho Trần Ngọc T số tiền 64.666.667₫.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xanh (được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký của Điều tra viên Huỳnh Phước X1, hình dấu mộc của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P và chữ ký của bị can Duy Huỳnh Nhật L) liên quan đến tội phạm nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu SH Mode màu đỏ đen, biển số 78C1 – 706.26 (kèm chìa khóa xe mô tô); - 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 78C1 – 706.26, đều thu giữ của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L. Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L tự nguyện dùng các tài sản này để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của vụ án nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
[7] Về án phí:
[7.1] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Duy Huỳnh Nhật L, Trịnh Minh T1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7.2] Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L còn phải trả lại cho Châu Thị Hồng H1 số tiền 531.000.000đ, hoàn trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.809.000.000₫ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Trần Ngọc T lúc đầu không biết L dùng thủ đoạn gian dối và lợi dụng nên đã vay tiền đưa cho L. Sau khi biết L có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, T đã khắc phục toàn bộ số tiền vay nên không đồng phạm với L.
[9] Châu Thị Hồng H1 không biết L dùng thủ đoạn gian dối vay tiền chiếm đoạt nên giới thiệu L vay tiền của Nguyễn Thị Kim H2 và nhận 30.000.000₫ Lệ trả nợ, ngày 10/3/2022, H1 cho L vay 100.000.000đ, thời hạn 07 ngày, lãi suất 10%/tháng (120%/năm) với tiền lãi 2.301.369đ (Lệ chưa trả) nhưng không có yếu tố định tội khác nên không cấu thành tội phạm.
[10] Duy Huỳnh Nhật Lệ mượn của H1 69.000.000đ, Phạm Tiến D1 750.000.000đ, Nguyễn Thành C 50.000.000đ để sử dụng cá nhân và L đã dùng tiền chiếm đoạt trả, trong đó: lấy 200.000.000₫ của T3 và 120.000.000đ của H2 trả cho D1, số tiền còn lại L không xác định được cụ thể lấy tiền của ai trả nên đây là quan hệ dân sự. H1, D1, C không biết tiền Lệ trả là do phạm tội mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo Trịnh Minh T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
1. Hình phạt:
- Áp dụng Điểm a, Khoản 4, Điều 174; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52; Khoản 1, Điều 54 Bộ luật Hình sự, phạt: Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 15/9/2023).
- Áp dụng Khoản 2, Điều 201; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự, phạt: Bị cáo Trịnh Minh T1 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
2. Trách nhiệm bồi thường dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L và bị hại Châu Thị Hồng H1, của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T.
- Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L có trách nhiệm trả cho Châu Thị Hồng H1 số tiền 581.000.000đ, bị cáo đã trả trước số tiền 50.000.000đ nên còn phải tiếp tục trả số tiền 531.000.000đ (Năm trăm ba mươi mốt triệu đồng).
Châu Thị Hồng H1 được nhận số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) do bị cáo Duy Huỳnh Nhật L nộp theo Biên lai số 0000851 ngày 19/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L có trách nhiệm hoàn trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.859.000.000đ, bị cáo đã hoàn trả trước số tiền 50.000.000₫ nên còn phải tiếp tục hoàn trả số tiền 1.809.000.000đ (Một tỷ, tám trăm lẻ chín triệu đồng).
Trần Ngọc T được nhận số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) do bị cáo Duy Huỳnh Nhật L nộp theo Biên lai số 0000852 ngày 19/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đối với số tiền 245.000.000₫ Trần Ngọc T đã cho Duy Huỳnh Nhật L vay là giao dịch dân sự nên Trần Ngọc T có quyền khởi kiện Duy Huỳnh Nhật L để đòi lại số tiền 245.000.000đ này bằng một vụ kiện dân sự khác.
3. Biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điểm a, Khoản 1, Điều 46; Điểm a, b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Buộc bị cáo Trịnh Minh T1 phải nộp lại tài sản dùng vào việc phạm tội là khoản tiền cho vay (tiền gốc) 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Buộc bị cáo Trịnh Minh T1 phải nộp lại khoản tiền lãi phát sinh từ tội phạm, tương ứng với mức lãi suất 20%/năm, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 93.416.666đ (Chín mươi ba triệu, bốn trăm mười sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Buộc bị cáo Trịnh Minh T1 phải nộp lại số tiền 305.416.667đ là khoản tiền lãi trên 20%/năm mà bị cáo T1 thu lợi bất chính từ bị cáo Duy Huỳnh Nhật L để sung quỹ Nhà nước
- Buộc bị cáo Trịnh Minh T1 phải trả lại cho Trần Ngọc T số tiền 114.666.667₫ là khoản tiền lãi trên 20%/năm mà bị cáo T1 thu lợi bất chính từ Trần Ngọc Thương. Bị cáo Trịnh Minh T1 tự nguyện dùng số tiền 50.000.000đ bị tạm giữ để khắc phục hậu quả cho Trần Ngọc T nên bị cáo Trịnh Minh T1 còn phải trả lại cho Trần Ngọc T số tiền 64.666.667đ (Sáu mươi bốn triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
Trần Ngọc T được nhận số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) do bị cáo Trịnh Minh T1 nộp khắc phục hậu quả theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số [...] của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P do Điều tra viên Huỳnh Phước X1 nộp ngày 15/01/2024.
4. Xử lý vật chứng:
Áp dụng 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 (một) xe mô tô hiệu SH Mode màu đỏ đen, biển số 78C1 – 706.26 (kèm chìa khóa xe mô tô); - 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 78C1 – 706.26, thu giữ của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xanh (được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký của Điều tra viên Huỳnh Phước X1, hình dấu mộc của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P và chữ ký của bị can Duy Huỳnh Nhật L), thu giữ của bị cáo Duy Huỳnh Nhật L.
Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
5. Án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Các bị cáo Duy Huỳnh Nhật L, Trịnh Minh T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Duy Huỳnh Nhật L phải chịu 78.800.000đ (Bảy mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo, những người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Thị Thái Lan | Nguyễn Việt Hùng |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN- HSST - L và M - LĐ CĐ TS và cho vay lãi nặng
