TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-4-2024
“Tranh chấp về hôn nhân và gia
đình - Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Hai;
2. Ông Nguyễn Phát Triển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1985. Địa chỉ: C ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Nguyễn Quang T - Sinh năm: 1985. Địa chỉ: C ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/01/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị H và Nguyễn Quang T tìm hiểu quen biết nhau tiến tới hôn nhân rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp 28/01/2010, cuộc sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng năm 2016 phát sinh mâu thuẩn do anh Nguyễn Quang T không tu chí làm ăn, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, mà anh T còn có mối quan hệ ngoài hôn nhân, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm thường xuyên cự cải. Mặc dù, Nguyễn Thị H và gia đình đã nhiều lần khuyên ngăn anh Nguyễn Quang T nhưng anh Nguyễn Quang T không thay đổi. Cả hai đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay.
Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung bất đồng quan điểm, từ những nguyên nhân đó dẫn đến cuộc sống hôn nhân không đạt. Nay Nguyễn Thị H không còn tình cảm với anh Nguyễn Quang T nữa nên Nguyễn Thị H xin được ly hôn với Nguyễn Quang T.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quang T1, sinh ngày 24/7/2009 và Nguyễn Quang T2, sinh ngày 08/12/2011. Chị Nguyễn Thị H yêu cầu nuôi cả 02 con chung là cháu T2 và T1, không yêu cầu Nguyễn Quang T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị Nguyễn Thị H cũng có công việc ổn định nên có đủ khả năng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn Nguyễn Quang T trình bày: Bị đơn Nguyễn Quang T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Nguyễn Quang T, do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn anh Nguyễn Quang T có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang T được cha mẹ hai bên cho tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/01/2010 tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang T đã diễn ra từ lâu, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống trong nhiều vấn đề của cuộc sống vợ chồng, vì anh Nguyễn Quang T thường xuyên không quan tâm vợ con, thường xuyên vắng nhà mặc dù chị Nguyễn Thị H đã nhiều lần khuyên can nhưng anh Nguyễn Quang T vẫn không thay đổi. Từ năm 2016, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang T sống ly thân cho đến nay. Vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang T có Có 02 con chung tên Nguyễn Quang T1, sinh ngày 24/7/2009 và Nguyễn Quang T2, sinh ngày 08/12/2011. Hội đồng xét xử nhận thấy chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang T đều có đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, hai cháu hiện đang được mẹ chăm sóc tốt nên cần mẹ ruột tiếp tục chăm sóc để phát triển tốt về mọi mặt. Xét thấy, chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi để con chung có cuộc sống ổn định và phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của hai cháu. Vì vậy, giao cháu Nguyễn Quang T1 và Nguyễn Quang T2 cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Quang T.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quang T1, sinh ngày 24/7/2009 và Nguyễn Quang T2, sinh ngày 08/12/2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Nguyễn Thị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Nguyễn Quang T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
- Về án phí và tạm ứng án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001405, ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (chị Nguyễn Thị H đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/4/2024). Đối với bị đơn không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Hiếu |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
