Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM ĐỘNG

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HSST

Ngày 26/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Liên và bà Phạm Thị Hồng Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên: Ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 26/4/2024, tại Nhà văn hóa thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 29/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 15/4/2024 đối với bị cáo: Đào Ngọc T, sinh ngày 22/10/2000, giới tính: Nam, tên gọi khác: Không có. Nơi cư trú: Thôn Đ, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Dân tộc: Kinh, quốc tịch: Việt Nam, tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Đào Ngọc T1, sinh năm 1975 và bà: Đào Thị N, sinh năm 1978. Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 05/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • Ông Nguyễn Thế V - sinh năm: 1967 (vắng mặt).

* Người chứng kiến:

  • Anh Đào Hồng Q - sinh năm: 1989 (vắng mặt).

Đều trú tại: Thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thường xuyên sử dụng chất ma túy (Methamphetamine) nên trưa ngày 02/01/2024, Đào Ngọc T, sinh năm 2000; hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên thuê xe ôm đi từ nhà đến khu vực cầu S thuộc địa phận thôn V, xã Đ, huyện K chơi và tìm mua ma túy để sử dụng, khi đi đến đoạn đường ĐT 377 thuộc địa phận thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên, T xuống xe một mình đi bộ tìm mua ma túy. Tại đây T gặp và mua của một người phụ nữ không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá là 300.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang đi bộ trên đoạn đường thuộc thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện K cùng với Công an xã S kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 01 gói nilon, nắp viền cài màu đỏ, kích thước (02x02) cm bên trong chứa chất kết tinh màu trắng dạng hạt và bột, T khai nhận là ma túy, loại Methamphetamine. Cơ quan điều tra đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định theo quy định.

Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện K tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Ngọc T ở thôn Đ, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định số 146/KL-KTHS(MT) ngày 05/01/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu A1, có khối lượng: 0,252 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Đối với 0,241 gam ma túy, loại Methamphetamine cùng 01 túi nilon đựng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định - Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Đối với người phụ nữ bán ma túy và người lái xe ôm đã chở T đến thôn P, xã S. Do T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người nói trên nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.

Cáo trạng số: 29/CT-VKSKĐ ngày 28/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo Đào Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đào Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử phạt Đào Ngọc T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu, cho tiêu hủy 01 niêm phong ghi số 146/KL-KTHS(MT) bên trong có: 0,241 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon đựng ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Đối với người phụ nữ bán ma túy và người lái xe ôm đã chở T đến thôn P, xã S. Do T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người nói trên nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, của người làm chứng, cùng các chứng cứ, tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 02/01/2024 tại đoạn đường ĐT 377 thuộc địa phận thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Đào Ngọc T đã tàng trữ trái phép 0,252 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Đào Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Đào Ngọc T theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 29/CT - VKSKĐ ngày 28/3/2024 là hoàn toàn có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội.

[3] Về nhân thân: Bị cáo lần đầu phạm tội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông Đ Công tố là ông nội của bị cáo là thương binh loại A. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 (01 tình tiết) Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và một số tội phạm khác, chỉ vì muốn đáp ứng nhu cầu sử dụng ma tuý của mình, bị cáo đã coi thường kỷ cương, bất chấp pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần thiết phải cho cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mục đích để trừng trị kẻ phạm tội và để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng không phải vì vụ lợi. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Đối với 01 niêm phong ghi số 146/KL-KTHS(MT) bên trong có: 0,241 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon đựng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/4/2024 của Công an huyện K).

[8] Về án phí: Bị cáo Đào Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Đối với người phụ nữ bán ma túy và người lái xe ôm đã chở T đến thôn P, xã S. Do T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người nói trên nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đào Ngọc T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 02/01/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu cho tiêu hủy 01 niêm phong ghi số 146/KL-KTHS(MT) bên trong có: 0,241 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon đựng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/4/2024 của Công an huyện K).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án (26/04/2024).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Duy Trĩnh

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên.
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên.
  • - Viện kiểm sát, Công an huyện Kim Động;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Động;
  • - Bị cáo;
  • - UBND tt Lương Bằng; Song Mai;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng Tòa án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 29/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger