Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THỦY

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 29/2024/HSST

Ngày: 25/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY-TỈNH HÒA BÌNH

• Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Đào và ông Tạ Đức Bằng

Thư ký ghi phiên tòa: Bà Trần Thu Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/HSST ngày 03 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/QĐ-HSST ngày 02/07/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 12/TA-TA ngày 11/7/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 20 tháng 03 năm 1975. Nơi cư trú: phố H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hòa Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do, con ông Nguyễn Bá V (đã chết) và bà Nguyễn Thị C có chồng là Vũ Hà V1, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 20/01/2024 được tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bùi Thị L, sinh năm 1979 – Có mặt

    Địa chỉ: xóm L, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

  2. Nguyễn Xuân X, sinh năm 1988 – Vắng mặt

    Địa chỉ: Phố D, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

  3. Trần Thị H, sinh năm 1973 – Vắng mặt

    Địa chỉ: Phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

  4. Đinh Thị Thùy H1, sinh năm 1965 – Vắng mặt

    Địa chỉ: Phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình

  5. Quách Thị T1, sinh năm 1977 – Có mặt

    Địa chỉ: xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

  6. Nguyễn Thị H2, sinh năm 1979 – Vắng mặt

    Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

  7. Bùi Quốc Q, sinh năm 1983 – Vắng mặt

    Nơi ĐKHKTT: Phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

    Chỗ ở hiện nay: Đang chấp hành án phạt tù tại Trại tam giam Công an tỉnh N.

  8. Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1985 – Vắng mặt

    Địa chỉ: phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

  9. Vũ Hà V1, sinh năm 1971 – Có mặt

    Địa chỉ: xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

  10. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962 – Có mặt

    Địa chỉ: phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

  11. Đinh Thị M, sinh năm 1969 – Có mặt

    Địa chỉ: phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2021 đến 12/11/2023 Nguyễn Thị T đã thông qua những mối quan hệ quen biết để cho vay tiền, lợi dụng vào hoàn cảnh khó khăn, cần tiền gấp của người vay tự đặt ra mức lãi suất cao gấp nhiều lần mức lãi suất mà Nhà nước quy định. T đã gặp trực tiếp người vay tại nhà để đưa tiền hoặc sử dụng tài khoản số 48310000628828 do T đứng tên mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Bình để chuyển tiền đến số tài khoản của người vay. Khi cho vay T yêu cầu người vay viết giấy vay tiền nhưng trong giấy không ghi phần lãi suất cho vay, có những trường hợp viết giấy vay tiền, có trường hợp không viết phụ thuộc vào mối quan hệ. Phần mức lãi suất cho vay bị can T chỉ thỏa thuận miệng qua lời nói với người vay để tránh sự phát hiện và xử lý của các cơ quan chức năng. Trong quá trình cho vay tiền, bị can T thu tiền gốc và tiền lãi bằng hình thức người vay sẽ chuyển tiền vào số tài khoản của T, sau khi trả tiền sẽ gửi tin nhắn hình ảnh giao dịch chuyển tiền đến tài khoản Zalo tên “Tam Nguyen” được đăng ký bằng số điện thoại 0858.577.xxx của bị cáo. Sau đó, T sẽ đốt giấy vay tiền để tiêu hủy và chỉ theo dõi số tiền cho vay và các lần trả lãi của những người vay trong ứng dụng Zalo.

Với thủ đoạn đó bị cáo T đã sử dụng số tiền 1.910.000.000 đồng (một tỷ chín trăm mười triệu đồng để cho nhiều người vay tiền có tính lãi suất dưới hình thức không cầm cố tài sản và mức lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự để thu lời bất chính. Cụ thể T cho những người liên quan vay như sau:

1. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị L, sinh năm 1979 trú tại xóm xóm L, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình:

- Tháng 11/2021 T cho chị L vay số tiền 10.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 10.000.000 đồng thì chị L phải trả cho T số tiền lãi là 1.500.000 đồng/tháng. Tổng số tiền lãi chị L đã trả cho T từ ngày 09/3/2022 đến ngày 10/11/2022 là 14.900.000 đồng và chưa trả số tiền gốc.

- Tháng 11/2022, T tiếp tục cho chị L vay thêm số tiền 10.000.000 đồng, lúc này tổng số tiền đã cho chị L vay là 20.000.000 đồng và T tính lãi suất đối với tổng số tiền này mức lãi suất vay là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 20.000.000 đồng thì chị L phải trả cho T số tiền lãi là 3.000.000 đồng/ tháng. Tổng số tiền lãi chị L đã trả cho T từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/11/2023 là 32.400.000 đồng và chưa trả số tiền gốc.

Như vậy, Nguyễn Thị T đã cho Bùi Thị L vay 02 lần với tổng số tiền gốc là 20.000.000 đồng, có viết giấy biên nhận, không ghi hời hạn vay, không ghi lãi suất nhưng thỏa thuận miệng mức lãi suất là 5000 đ/ 1.000.000đ/ 1 ngày, tức là với số tiền vay 20.000.000 đồng thì một ngày L phải trả cho chị T số tiền lãi là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), một tháng phải trả số tiền lãi 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Đến nay Chị L chưa trả số tiền gốc 02 lần vay. Căn cứ công văn số 68/TTGSNH ngày 30/11/2023 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H thì T đã cho chị L vay với lãi suất lần lượt là 221.08 %/năm và 176.51 %/năm, mức lãi suất trên vượt quá 11.05 lần và 8.83 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi tối đa T được thu theo quy định của Bộ luật dân sự 02 lần cho chị L vay là: 5.019.178 đồng. T thu lợi bất chính tổng số tiền là 42.280.822 đồng

2. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Xuân X, sinh năm 1988 trú tại xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình, Nguyễn Thị T cho anh X vay 13 lần:

  • - Lần 1: Ngày 21/3/2022, T cho anh X vay số tiền 200.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 200.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 600.000 đồng/ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 21/3/2022 đến ngày 30/3/2022 là 6.000.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 2: Ngày 22/4/2022.T cho anh X vay số tiền 200.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 200.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 600.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 22/4/2022 đến ngày 25/4/2022 là 2.400.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 3: Ngày 09/5/2022, T cho anh X vay số tiền 100.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 100.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 300.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 09/5/2022 đến ngày 13/5/2022 là 1.500.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 4: Ngày 24/8/2022, T cho anh X vay số tiền 60.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 60.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 180.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 24/8/2022 đến ngày 02/9/2022 là 1.800.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 5: Ngày 20/02/2023, T cho anh X vay số tiền 50.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 50.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 150.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 20/02/2023 đến ngày 28/02/2023 là 1.350.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 6: Ngày 27/02/2023, T cho anh X vay số tiền 80.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 80.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 240.000 đồng/ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 27/02/2023 đến ngày 03/03/2023 là 1.200.000 đồng và đã trả số tiền gốc

  • - Lần 7: Ngày 07/03/2023, T cho anh X vay số tiền 20.000.000 đồng, mức lãi vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 20.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 60.000 đồng/ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 07/03/2023 đến ngày 15/03/2023 là 540.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 8: Ngày 19/4/2023, T cho anh X vay số tiền 10.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 10.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 30.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 19/4/2023 đến ngày 29/4/2023 là 330.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 9: Ngày 24/4/2023, T cho anh X vay số tiền 100.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 100.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 300.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 24/4/2023 đến ngày 29/4/2023 là 1.800.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 10: Ngày 05/5/2023 T cho anh X vay số tiền 100.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 100.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 300.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 05/5/2023 đến ngày 07/5/2023 là 900.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 11: Ngày 15/5/2023, T cho anh X vay số tiền 200.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 200.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 600.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 15/5/2023 đến ngày 30/5/2023 là 8.400.000 đồng và ngày 31/5/2023 đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 12: Ngày 23/9/2023, T cho anh X vay số tiền 20.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 20.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 60.000 đồng/ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 23/9/2023 đến ngày 02/10/2023 là 540.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

  • - Lần 13: Ngày 12/11/2023,T cho anh X vay số tiền 300.000.000 đồng, mức lãi 1 suất vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 300.000.000 đồng thì anh X phải trả cho T số tiền lãi là 900.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền lãi anh X đã trả cho T từ ngày 12/11/2023 đến ngày 22/11/2023 là 9.900.000 đồng và chưa trả số tiền gốc.

Nguyễn Thị T đã cho Nguyễn Xuân X vay tổng cộng 13 lần, khi vay giữa T và anh X không làm hợp đồng vay tiền mà chỉ thỏa thuận miệng với nhau. T sẽ chuyển trực tiếp tiền vay từ tài khoản của T sang cho X, thống nhất mức lãi suất khi vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (nghĩa là với mỗi 1.000.000 đồng vay thì một ngày anh X phải trả cho chị T 3.000 đồng tiền lãi). Căn cứ công văn số 68/TTGSNH ngày 30/11/2023 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H thì T đã cho anh X với mức lãi suất từ 109.50 %/năm đến 164.25 %/năm, mức lãi suất trên vượt quá từ 5.11 đến 8.92 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng Số tiền lãi tối đa T được thu theo quy định của 13 lần vay là: 6.136.986. T thu lợi bất chính tổng số tiền là 30.523.014 đồng.

3. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị H, sinh năm 1973, trú tại xóm P, thị trấn N, tỉnh Ninh Bình:

- Ngày 04/5/2023, T cho chị H vay số tiền 200.000.000 đồng, mức lãi vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tức là với số tiền vay 200.000.000 đồng thì chị H phải trả cho T số tiền lãi là 600.000 đồng/ngày. Tổng số tiền lãi chị H đã trả cho T từ ngày 04/5/2023 đến ngày 11/5/2023 là 4.800.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

Căn cứ công văn số 43/TTGSNH ngày 01/4/2024 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H thì T đã cho chị H vay với lãi suất 125.14 %/năm, mức lãi suất trên vượt quá 6.26 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự, T thu lợi bất chính số tiền 4.032.877 đồng). Số tiền lãi tối đa T được thu theo quy định là: 767.123 đồng.

4. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đinh Thị Thùy H1, sinh năm 1965 trú tại xóm P, thị trấn N, tỉnh Ninh Bình:

- Ngày 22/6/2023, T cho chị H1 vay số tiền 250.000.000 đồng, mức lãi suất vay là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là với số tiền vay 250.000.000 đồng thì chị H1 phải trả cho T số tiền lãi là 37.500.000 đồng/tháng. Hai bên thỏa thuận miệng chị H1 sẽ trả số tiền gốc, tiền lãi bất cứ lúc nào, số tiền lãi sẽ tính theo số ngày vay đã vay tiền. Tổng số tiền lãi chị H1 đã trả cho T từ ngày 22/6/2023 đến ngày 28/7/2023 là 44.000.000 đồng và đã trả số tiền gốc.

Căn cứ công số 68/TTGSNH ngày 30/11/2023 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H thì T đã cho chị H1 vay với lãi suất 178.44 %/năm, mức lãi suất trên vượt quá 8.92 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự, T thu lợi bất chính số tiền 39.068.493 đồng. Số tiền lãi tối đa T được thu theo quy định là: 4.931.507 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y còn làm rõ, ngoài 04 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trên bị can Nguyễn Thị T còn cho 01 người vay có tính lãi suất vượt quá 05 lần lãi suất quy định của Bộ luật dân sự nhưng hiện xác minh không có mặt tại địa phương; cho 01 người vay tiền với lãi suất không vượt quá lãi suất quy định của bộ luật dân sự và 05 người vay không tính lãi suất, cụ thể:

  • - Ngày 13/9/2021, Nguyễn Thị T cho chị Đinh Thị M, sinh năm 1969 trú tại phố T, thị trấn N, tỉnh Ninh Bình vay số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) không tính lãi suất, đến ngày 22/8/2022 T thỏa thuận với chị Đinh Thị M bắt đầu tính lãi suất đối với số tiền 30.000.000 đồng, mức lãi suất là 3000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày. Từ ngày 22/8/2022 đến ngày 12/02/2023 chị M đã trả cho T số tiền lãi của khoản vay trên là 15.200.000 đồng và trả 21.000.000 đồng tiền gốc (qua lời khai của T). Căn cứ công văn số 43/TTGSNH ngày 01/4/2024 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H thì T đã cho chị M vay với lãi suất 106.28 %/năm, mức lãi suất trên vượt quá 5.31 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự, T thu lợi bất chính số tiền 12.339.726 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, tuy nhiên hiện nay chị M không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu làm gì.

  • - Đối với người phụ nữ tên Y ở thành phố N, tỉnh Ninh Bình và người đàn ông tên T3 ở tỉnh Ninh Bình là người theo lời khai của T trong năm 2021 đã cho Y vay số tiền 30.000.000 đồng, cho T3 vay tổng số tiền 350.000.000 đồng với lãi suất là 2000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Nguyễn Thị T khai chỉ quen biết thông qua các đầu mối làm ăn của gia đình chứ không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể của những người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện không có mặt tại địa phương do vậy chưa làm việc được với các bên đương sự.

  • - Đối với chị Quách Thị T1, sinh năm 1977 trú tại xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình: Ngày 04/10/2023 cho vay số tiền 160.000.000 đồng, ngày 09/10/2023 cho vay số tiền 80.000.000 đồng, ngày 17/10/2023 cho vay số tiền 300.000.000 đồng, ngày 19/10/2023 cho vay số tiền 400.000.000 đồng, ngày 24/10/2023 cho vay số tiền 100.000.000 đồng, sau khi cho vay bị cáo T đã tổng hợp các lần cho chị T1 vay mặt sau của 1/2 tờ lịch. Tổng là 1.040.000.000 đồng nhưng các lần cho vay bị can T không tính lãi suất, sau đó chị T1 đã trả toàn bộ số tiền vay gốc trên cho bị cáo.

  • - Đối với các khoản tiền cho chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1985 trú tại phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình vay: Ngày 26/3/2023 cho vay số tiền 100.000.000 đồng, ngày 08/4/2023 cho vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 09/5/2023 cho vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 21/5/2023 cho số tiền 250.000.000 đồng, ngày 22/5/2023 cho số tiền 200.000.000 đồng, ngày 24/5/2023 cho vay số tiền 150.000.000 đồng, ngày 17/7/2023 cho vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 23/7/2023 cho vay số tiền 70.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáoTám cho chị Kim A vay là 1.370.000.000 đồng nhưng các lần cho vay trên T không tính lãi suất, sau đó chị Kim A đã trả toàn bộ số tiền vay gốc trên cho bị cáo T.

  • - Đối với khoản tiền cho chị Nguyễn Thị T2 sinh năm 1965 trú tại phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình vay: Ngày 30/12/2022 âm lịch tức ngày 21/01/2023 dương lịch cho vay số tiền 400.000.000 đồng, khi vay chị T2 có viết 01 giấy vay tiền vào mặt sau của tờ lịch nhưng T không tính lãi suất. Sau đó, chị T2 đã trả số tiền vay gốc trên cho T.

Những khoản tiền mà bị cáo T cho vay không tính lãi suất, không có căn cứ về việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, Hòa Bình không xử lý.

  • - Đối với khoản tiền cho anh Bùi Quốc Q, sinh năm 1983 trú tại phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình vay: Vào khoảng đầu tháng 4/2022 cho vay số tiền 30.000.000 đồng, khi vay anh Q có viết 01 giấy vay tiền vào tờ giấy A4 nhưng bị can T không tính lãi suất. Sau khi vay tiền đến nay, anh Q chưa trả tiền vay gốc trên cho bị can T.

  • - Đối với khoản tiền cho anh Nguyễn Xuân X vay: Ngày 22/11/2023 cho anh X vay 150.000.000 đồng nhưng bị can T không tính lãi suất, sau đó anh X đã trả số tiền vay gốc trên cho bị can T.

  • - Đối với 01 (một) phong bì thư mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên thu giữ của bị can Nguyễn Thị T: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm rõ nội dung ghi trong phong bì thư trên không liên quan đến hoạt động cho vay tiền có tính lãi suất.

Ngày 30/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ban hành văn bản số 320/CV- ĐCSHS-KTMT đề nghị Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H phối hợp xác định lãi suất và số tiền thu lời bất chính đối với hành vi của Nguyễn Thị T. Tại Công văn số 68/TTGSNH ngày 30/11/2023 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H xác định Nguyễn Thị T đã cho Bùi Thị L, Đinh Thị Thùy H1Nguyễn Xuân X vay tiền với lãi suất vượt trên 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự, T thu lợi bất chính số tiền là 111.872.329 đồng.

Ngày 28/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ban hành văn bản số 133/CV- ĐCSHS-KTMT đề nghị Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H phối hợp xác định lãi suất và số tiền thu lời bất chính. Tại Công văn số 43/TTGSNH ngày 01/4/2024 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh H xác định Nguyễn Thị T đã cho Đinh Thị MTrần Thị H vay tiền với lãi suất vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định của BLDS là 3.627.397 đồng, T thu lợi bất chính số tiền là 16.372.603 đồng (đối với Đinh Thị M là 12.339.726 đồng; Trần Thị H là 4.032.877 đồng).

Ngày 14/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định số 172/QĐ-ĐCSHS-KTMT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định kỹ thuật số, phục hồi dữ liệu trên điện thoại di động thu giữ của bị can Nguyễn Thị T. Tại Bản kết luận giám định số 145/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Tìm thấy 27 tệp tin âm thanh; 3000 lịch sử cuộc gọi đi; 1.062 tin nhắn gồm 707 tin nhắn SMS, 955 tin nhắn của ứng dụng Facebook Messenger trong điện thoại gửi giám định (dữ liệu lưu trong USB kèm theo); không trích xuất được nội dung các cuộc trò chuyện của ứng dụng tin nhắn Zalo; Kiểm tra các tệp tin âm thanh trích xuất được ghi nhận 01 tệp tin âm thanh có tên “Chuẩn 2.mp3.MPGA” có thời lượng 07 phút 26 giây có nội dung liên quan đến hoạt động cho vay trong giao dịch dân sự.

Quá trình điều tra đã làm rõ số tiền thu lời bất chính, vượt quá 05 lần lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự mà Nguyễn Thị T cho Bùi Thị L, Đinh Thị Thùy H1, Nguyễn Xuân X, Trần Thị H vay tiền là 115.905.206 đồng (Một trăm mười lăm triệu chín trăm linh năm nghìn hai trăm linh sáu đồng).

Đối với số tiền 64.288.609 đồng trong tài khoản 48310000628828 của bị cáo Nguyễn Thị T (số dư cuối kỳ ngày 22/11/2023) mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Hòa Bình đã ra Lệnh phong tỏa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Bình: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm rõ nguồn gốc số tiền 64.288.609 đồng, trong đó số tiền 9.900.000 đồng là số tiền lãi anh Nguyễn Xuân X trả cho bị can T ngày 22/11/2023, còn số tiền 54.388.609 đồng là tiền của bị can T do lao động tích cóp mà có.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ, tạm giữ các vật chứng của vụ án như sau:

  • - Tạm giữ của Nguyễn Thị T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2 F, màu xanh, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) giấy vay tiền giữa Bùi Quốc QNguyễn Thị T; 01 (một) phong bì thư mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên; 01 (một) mảnh giấy tờ lịch tại mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên có liên quan đến việc vay tiền; 01 (một) tờ lịch mặt phía sau có ghi nội dung “30/12/22 âm lịch chị T2 vay Tám V2 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng chẵn) T2 côi”.

  • - Tạm giữ số tiền 106.010.000 đồng (một trăm linh sáu triệu không trăm mười nghìn đồng) do Nguyễn Thị T tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm chị Bùi Thị L, Đinh Thị Thùy H1, Nguyễn Xuân X, Trần Thị H. Hiện đã gửi vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

  • - Đối với 01 (một) phong bì thư mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên thu giữ của bị can Nguyễn Thị T: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm rõ nội dung ghi trong phong bì thư trên không liên quan đến hoạt động cho vay tiền có tính lãi suất.

Vật chứng là 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2 F, màu xanh, cũ đã qua sử dụng chuyển xuống Kho vật chứng của Chi cục THADS huyện Y chờ xử lý theo quy định. Đối với số tiền 106.010.000 đồng chuyển từ tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y sang tại khoản tạm giữ của Chi cục THADS huyện Y, Hòa Bình.

* Phần trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị L, anh Nguyễn Xuân X, Đinh Thị Thùy H1 đề nghị trả lại số tiền thu lời bất chính vượt mức lãi suất mà Bộ luật dân sự quy định. Đối với Trần Thị H không có yêu cầu đề nghị gì về vấn đề trách nhiệm dân sự.

Bản cáo trạng số: 16/ CT-VKS-YT ngày 01/05/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Khoản 2 Điều 201 BLHS . Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

Áp dụng: Khoản 2 Điều 201; điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị T từ 250 triệu đến 300 triệu đồng;

Hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

b. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 357; Điều 407; Điều 468 Bộ luật Dân sự, áp dụng Điều 47, điều 48 Bộ luật hình sự: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) số tiền thu lợi bất chính với mức lãi xuất trên 20% quy định của Bộ luật dân sự tổng số tiền 115.905.206 đồng.

  • Bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại 106.010.000 đồng tiền thu lời bất chính, hiện tạm giữ gửi tại khoản tạm giữ của Cơ quan Thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án

  • - Truy thu xung công quỹ Nhà nước số tiền gốc: 1.590.000.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội, những người vay đã trả lại cho bị cáo

  • - Truy thu xung công quỹ nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị T số tiền thu lợi từ việc cho vay với mức lãi xuất dưới 20% là 16.854.794 đồng (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi tư đồng.

  • -Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp số tiền gốc vay chưa trả cho bị cáo Nguyễn Thị T để xung quỹ Nhà nước.

  • - Tịch thu số tiền 106.010.000 đồng mà bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền thu lời bất chính để khắc phục hậu quả hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Cơ quan Thi hành án dân sự nên để trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

  • - Đối với số tiền 64.288.609 đồng hiện đang phong tỏa trong tài khoản 48310000628828 đã chứng minh làm rõ gồm 9.900.000 đồng Nguyễn Xuân X trả lãi cho bị cáo lần thứ 13 có 8.256.164 đồng là tiền thu lời bất chính cần phải trả lại cho Nguyễn Xuân X; 1.643.836 đồng là tiền lãi thu theo quy định của BLDS cần xung quỹ Nhà nước; 54.388.609 đồng không liên quan tới hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên để đảm bảo thi hành án cần tiếp tục phong tỏa, tịch thu số tiền này.

c) Xử lý vật chứng:

  • - Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS 2015, điều 106 BLTTHS 2015 đề nghị HĐXX:

  • + Phát mại sung công 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2 F, màu xanh, cũ đã qua sử dụng;

  • + 01 (một) phong bì thư mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên; 01 (một) mảnh giấy tờ lịch tại mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên có liên quan đến việc vay tiền; 01 (một) tờ lịch mặt phía sau có ghi nội dung “30/12/22 âm lịch chị T2 vay tám vinh 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng chẵn) T2 côi” tiếp tục lưu hồ sơ và đánh số bút lục trong vụ án.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy và thừa nhận bị truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng Hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người liên quan không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo là rõ ràng phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Xác định từ tháng 9/2021 đến 12/11/2023 Nguyễn Thị T đã thông qua những mối quan hệ quen biết để cho Bùi Thị L, Đinh Thị Thùy H1Nguyễn Xuân X vay tổng số tiền là 1.910.000.000 đồng (một tỷ chín trăm mười triệu đồng) với lãi suất vượt trên 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự, T thu lợi bất chính số tiền là 115.905.206 đồng. Hành vi cho vay trong giao dịch dân sự theo mức lãi suất như trên của Nguyễn Thị T đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

  • + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo có bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng là người có công với cách mạng. Bị cáo Nguyễn Thị T đã khắc phục hậu quả bằng cách nộp lại toàn bộ tiền thu lợi bất chính từ hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng, trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Bị cáo có năng lực pháp luật, nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, tuy nhiên vì hám lợi nên đã thực hiện hành vi cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất vượt trên 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân sự. Đây là hành vi dùng tiền để kinh doanh bất hợp pháp, với lỗi cố ý trực tiếp bằng thủ đoạn lợi dụng hoàn cảnh người vay cần tiền gấp để thực hiện hành vi ép người vay tiền phải chịu lãi suất thật cao, mục đích để thu lợi bất chính gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

Tuy nhiên, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, gia đình bố mẹ hai bên đều là người có công với cách mạng, tính chất mức độ hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại Khoản 2 Điều 201 BLHS. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước, xử phạt tiền sung Ngân sách Nhà Nước đối với bị cáo cũng thỏa đáng.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Theo quy định tại khoản 1, điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Lãi xuất vay do các bên thỏa thuận, trường hợp có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không vượt quá 20%/ năm của khoản tiền vay.."

Giao dịch cho vay của bị cáo T với người liên quan trong vụ án này vượt quá 05 lần lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1, điều 468 của Bộ luật dân sự là giao dịch trái pháp luật nên toàn bộ số tiền gốc cho vay là phương tiện phạm tội cần truy thu sung quỹ nhà nước, số tiền lãi trong hạn là thu lời bất chính của bị cáo cần buộc bị cáo truy thu để sung quỹ nhà nước, số tiền lãi quá quy định cần buộc bị cáo trả cho người vay, cụ thể như sau:

Truy thu, sung quỹ Nhà Nước toàn bộ số tiền gốc 1.910.000.000 đồng (một tỷ chín trăm mười triệu đồng), là phương tiện phạm tội. Cụ thế:

  • Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 1.590.000.000.₫

  • Người liên quan Nguyễn Xuân X phải nộp 300.000.000 đ (tiền gốc anh xinh chưa trả cho T nên thu trực tiếp từ anh X)

  • Người liên quan Bùi Thị L phải nộp 20.000.000 đ (tiền gốc chị L chưa trả cho T nên thu trực tiếp từ chị L).

Truy thu sung công quỹ nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị T số tiền thu lợi từ việc cho L, X, H1, H trong hạn Bộ luật dân sự quy định (lãi xuất dưới 20%) là 16.854.794 đồng (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi tư đồng).

Tổng hai khoản bị cáo T phải nộp là 1.590.000.000.₫ + 16.854.794 = 1.606.854.794 đồng (Một tỉ sáu trăm linh sáu triệu tám trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi tư đồng).

Tịch thu số tiền 106.010.000 đồng mà bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền thu lời bất chính để khắc phục hậu quả hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Cơ quan Thi hành án dân sự nên để trả lại lại cho 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) số tiền thu lợi bất chính với mức lãi xuất trên 20% quy định của Bộ luật dân sự tổng số tiền 115.905.206 đồng. Cụ thể:

  • + Trả lại cho Bùi Thị L số tiền 42.280.822 đồng

  • + Trả lại cho Nguyễn Xuân X số tiền 30.523.014 đồng

  • + Trả lại cho Trần Thị H số tiền: 4.032.877 đồng

  • + Trả lại cho Đinh Thị Thùy H1: 39.068.493 đồng.

- Đối với số tiền 64.288.609 đồng hiện đang phong tỏa trong tài khoản 48310000628828 Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Bình xác định 9.900.000 đồng Nguyễn Xuân X trả lãi cho bị cáo lần thứ 13 có 8.256.164 đồng là tiền thu lời bất chính; 1.643.836 đồng là tiền lãi thu theo quy định của BLDS cần xung quỹ Nhà nước; 54.388.609 đồng không liên quan tới hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Cần tiếp tục phong tỏa để đảm bảo thi hành án.

* Xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2 F, màu xanh, cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị T là vật chứng phạm tội cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà Nước.

  • + 01 (một) phong bì thư mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên; 01 (một) mảnh giấy tờ lịch tại mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên có liên quan đến việc vay tiền; 01 (một) tờ lịch mặt phía sau có ghi nội dung “30/12/22 âm lịch chị T2 vay tám vinh 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng chẵn) T2 côi” tiếp tục lưu hồ sơ vụ án,

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Đối với án phí dân sự sơ thẩm, số tiền thu lời bất chính bị cáo phải trả lại cho Người liên quan căn cứ điều 46, điều 48 Bộ luật hình sự xác định đây là tài sản bị cáo đã chiếm đoạt phải trả lại, đồng thời đã phong tỏa tài sản của bị cáo đủ để đảm bảo thi hành án, vì vậy không buộc bị cáo phải nộp án phí dân sự.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị T phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 201; điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị T 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng), nộp Ngân sách Nhà Nước.

2/ Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 407; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 46, Điều 47, điều 48 Bộ luật hình sự: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Truy thu, sung quỹ Nhà Nước toàn bộ số tiền gốc 1.910.000.000 đồng (một tỷ chín trăm mười triệu đồng), là phương tiện phạm tội. Cụ thế:

  • Thu của bị cáo Nguyễn Thị T là: 1.590.000.000đồng (một tỷ năm trăm chín mươi triệu)

  • T4 của người liên quan Nguyễn Xuân X là: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu)

  • T4 của Người liên quan Bùi Thị L là: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu)

Truy thu sung công quỹ nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị T số tiền thu lợi từ việc cho vay lãi là: 16.854.794 đồng (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi tư đồng).

Tổng hai khoản bị cáo T phải nộp vào Ngân sách Nhà Nước là 1.590.000.000đồng + 16.854.794đồng = 1.606.854.794 đồng (Một tỉ sáu trăm linh sáu triệu tám trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi tư đồng).

Tịch thu số tiền 106.010.000₫ bị cáo tự nguyện giao nộp, khắc phục hậu quả hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Cơ quan Thi hành án dân sự để trả lại cho người liên quan và đảm bảo Thi hành án gồm:

  • + Trả lại cho Bùi Thị L số tiền 42.280.822 đồng, Bùi Thị L phải nộp 20.000.000₫ nay đối trừ số phải nộp, còn được nhận 22.280.822 đ. (hai mươi hai triệu hai trăm tám mươi nghìn, tám trăm hai mươi hai đồng).

  • + Trả lại cho Nguyễn Xuân X số tiền 30.523.014 đồng, Nguyễn Xuân X phải nộp là: 300.000.000 đ (Ba trăm triệu), nay đối trừ số được trả còn phải nộp tiếp là: 269.476.986đ (Hai trăm sáu mươi chín triệu, bốn trăm bẩy mươi sáu nghìn, chín trăm tám mươi sáu đồng)

  • + Trả lại cho Trần Thị H số tiền: 4.032.877 đồng(Bốn triệu không trăm ba mươi hai nghìn tám trăm bẩy mươi bẩy đồng)

  • + Trả lại cho Đinh Thị Thùy H1: 39.068.493 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm sáu mươi tám nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng).

  • - Trả lại cho bị cáo số tiền 54.388.609 đồng hiện đang phong tỏa trong tài khoản 48310000628828 Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Bình tuy nhiên tiếp tục phong tỏa để đảm bảo thi hành án.

* Xử lý vật chứng:

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà Nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2 F, màu xanh, cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị Tám

Lưu hồ sơ vụ án, 01 (một) phong bì thư mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên; 01 (một) mảnh giấy tờ lịch tại mặt sau có ghi chữ và số tự nhiên có liên quan đến việc vay tiền; 01 (một) tờ lịch mặt phía sau có ghi nội dung “30/12/22 âm lịch chị T2 vay tám vinh 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng chẵn) T2 côi” .

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2, điều 135, khoản 2, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người liên quan có mặt có quyền kháng. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • Tòa án tỉnh Hòa Bình;
  • Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình
  • VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • VKSND huyện Yên Thủy;
  • - CA huyện Yên Thủy;
  • - THAHS - DS huyện Yên Thủy;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
  • - UBND xã Ngọc Lương
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Hảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY TỈNH HÒA BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 29/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger