|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/4/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Bà Nguyễn Thị Hiền
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 490/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 2000;
Địa chỉ: A ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trí T1, sinh năm 1998;
Địa chỉ: D ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Bà T có đề nghị xét xử vắng mặt; ông T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và chồng bà là ông Nguyễn Trí T1 đăng ký kết hôn vào ngày 11/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu, thời gian tìm hiểu khoảng hai năm. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống chung với cha mẹ ruột của bà tại địa chỉ: A ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Để phát kinh tế gia đình, bà làm công nhân ở khu công nghiệp G còn ông T1 thì không có việc làm, chỉ ở nhà, tụ tập bạn bè, ăn nhậu. Kinh tế gia đình do một mình bà gánh vác. Do đó, giữa bà và ông T1 xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Tuy sống chung nhà với cha mẹ vợ nhưng ông T1 có thái độ không tôn trọng, thường hay cãi vã với mẹ vợ về vấn đề nuôi dạy con chung. Sau đó, gia đình hai bên có ngồi lại nói chuyện với nhau và thống nhất nếu không tiếp tục chung sống được nữa thì ly hôn. Đến khi con bà tròn tháng tuổi thì bà và ông T1 đã ly thân, thời gian ly thân mạnh ai nấy sống. Nay, bà nhận thấy không còn tình cảm với ông T1, do đó bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà và ông T1 có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Trọng H, sinh ngày 21/10/2020. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Trí T1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác cho ông T1 theo đúng quy định nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T; Về con chung, giao con chung cháu Nguyễn Trọng H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng với số tiền 1.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; Về tài sản chung và nợ chung, bà T khai không có nên không xem xét. Án phí thực hiện theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T đề ngày 20/11/2023 (BL03) cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Trí T1 và yêu cầu được trực tiếp nuôi con, ngoài ra bà T không còn yêu cầu nào khác. Căn cứ Điều 51 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Nguyễn Trí T1 có nơi cư trú tại xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại đơn đề nghị ngày 28/3/2024, bà T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt (BL34). Ngoài ra, ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông T1.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 đăng ký kết hôn vào ngày 11/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Việc đăng ký kết hôn giữa bà T và ông T1 là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại đơn khởi kiện ngày 20/11/2023 (BL03), biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2024 (BL 29, 30), bà T trình bày cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông T1 không được hạnh phúc, thường nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T1 không lo lắng cho vợ con, mà chỉ lo tụ tập bạn bè, ăn chơi. Bà và ông T1 đã ly thân được ba năm. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông T1 đến để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa ông và bà T, nhưng ông T1 không có mặt. Bên cạnh đó, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo các tài liệu chứng cứ của bà T cho ông T1 biết, tuy nhiên, ông T1 không có mặt, cũng như có ý thức bỏ mặt đối với yêu cầu ly hôn của bà T. Từ các tài liệu chứng cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là phù hợp.
[3] Về con chung:
[3.1] Bà T và ông T1 có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Trọng H, sinh ngày 21/10/2020. Xét thấy, con chung hiện do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, phía ông T1 cũng không ý kiến gì về vấn đề nuôi con chung. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[3.2] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, bà T đề nghị ông T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng với số tiền 1.000.000 đồng. Xét yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi con của bà T, Hội đồng xét xử thấy: Nghĩa vụ nuôi con chung là thuộc về cha mẹ, tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “...cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con..”. Mặt khác, hiện nay con chung của bà T, ông T1 đang ở độ tuổi đi học mầm non, để con chung học tập và phát triển bình thường cũng như nhu cầu thiết yếu của con thì yêu cầu của bà T buộc ông T1 cấp dưỡng nuôi con cùng bà T với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình, buộc ông T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng với số tiền 1.000.0000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có nên không xem xét.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình với số tiền 300.000 đồng. Ông T1 có nghĩa vụ chịu án phí cấp dưỡng với số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với bị đơn ông Nguyễn Trí T1, cụ thể như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Minh T được ly hôn với ông Nguyễn Trí T1.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 21/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Minh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Trí T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Minh T khai không có nên không xem xét.
- - Về các vấn đề khác: Bà Nguyễn Thị Minh T khai không có nợ chung nên không xem xét.
-
Án phí:
- Bà Nguyễn Thị Minh T có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân va gia đình với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số 0000879 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (đã nộp xong).
- Ông Nguyễn Trí T1 có nghĩa vụ chịu án phí cấp dưỡng với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Minh T và ông Nguyễn Trí T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn
