Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 tháng 06 năm 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Hồng.

2. Bà Nguyễn Thị Vượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXX-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06/06/2024 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Số nhà A, đường H, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Có đơn xin vắng mặt)

2.Bị đơn: Anh Nghiêm Xuân T1, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Số nhà A, đường H, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trịnh Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nghiêm Xuân T1 kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn, chị và anh T1 về chung sống với nhau. Sau khi về chung sống, vợ chồng đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong các vấn đề của cuộc sống gia đình. Vợ chồng, hai bên gia đình đều đã cố gắng hoà giải nhưng không thành. Tháng 10/2023, anh T1 làm ăn thua lỗ, tự ý bỏ nhà đi, không liên lạc gì về với gia đình. Chị và gia đình không ai biết anh T1 đang ở đâu, vợ chồng chính thức ly thân từ đó đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh T1.

- Về con chung: Chị và anh T1 có hai con chung là Nghiêm Hải N, sinh ngày 17/09/2007 và Nghiêm Hải Đ, sinh ngày 26/07/2012. Hiện nay, hai con chung đều đang ở cùng với chị. Sau khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị có công việc, thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi con.

- Về tài sản chung, về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời thông báo các thủ tục tố tụng trên 03 số báo liên tiếp của Báo Công lý - Tòa án nhân dân tối cao, phát tin trên Đ1 03 ngày liên tiếp và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng bị đơn anh T1 đều không đến Tòa án làm việc, không có văn bản thể hiện quan điểm.

*Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ.

- Tại Biên bản xác minh ngày 26/3/2024, công an xã S, thành phố B cung cấp: Anh Nghiêm Xuân T1 vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà A, đường H, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Hiện nay, anh T1 không có mặt tại địa phương. Địa phương không biết anh T2 đi đâu và khi nào trở về.

- Tại Biên bản xác minh ngày 09/4/2024, trưởng khu C, xã S, thành phố B cung cấp: Quá trình chung sống tại địa phương, vợ chồng anh T1 chị T có mâu thuẫn gì hay không thì địa phương không rõ, chỉ biết anh T1 thường xuyên ham mê cờ bạc dẫn đến nợ nần. Cuối năm 2023, anh T1 bỏ đi khỏi nhà, hiện chưa thấy về. Hiện anh T1 đang ở đâu thì địa phương không rõ. Bố mẹ anh T1 sinh sống ở nước ngoài. Hai con của anh T1, chị T hiện đang sống tại địa phương cùng chị T.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2024, cháu Nghiêm Hải N và cháu Nghiêm Hải Đ đều trình bày: Trường hợp bố mẹ các cháu ly hôn, không sinh sống cùng với nhau nữa thì các cháu muốn được ở với mẹ.

- Tại Biên bản làm việc ngày 21/6/2024, ông Trịnh Văn S (bố đẻ chị T) cung cấp: Chị T và anh T1 kết hôn tháng 01/2007 sau một thời gian tự do tìm hiểu. Chị T và anh T1 có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, chị T và anh T1 sinh sống và làm việc tại thành phố B. Anh T1 và chị T ở riêng, không sống cùng bố mẹ chồng vì bố mẹ anh T1 sinh sống ở nước ngoài. Quá trình chung sống đến năm 2023 thì chị T và anh T1 có mâu thuẫn. Khi ông hỏi nguyên nhân mâu thuẫn thì chị T nói nguyên nhân do anh T1 làm ăn thua lỗ, bỏ nhà đi, không liên hệ gì về với gia đình hay vợ con. Chị T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng cũng không có thông tin gì của anh T1. Ngoài ra, sau khi anh T1 bỏ đi thì chị T cũng nói hết với ông những mâu thuẫn trong nhiều năm qua của vợ chồng anh T1 chị T, về việc anh T1 thường xuyên không quan tâm gia đình, thi thoảng lại bỏ nhà đi và chị T đã phải đi tìm anh T1 một vài lần rồi. Nay chị T xin ly hôn anh T1, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Chị T và anh T1 có hai con chung là Nghiêm Hải N, sinh ngày 17/9/2007 và Nghiêm Hải Đ, sinh ngày 26/7/2012. Hiện nay cả hai cháu đang ở cùng chị T tại số nhà A, đường H, xã S, thành phố B. Trường hợp chị T và anh T1 ly hôn, đề nghị Tòa án hỏi ý kiến các cháu để xem nguyện vọng các cháu muốn ở với ai. Hiện nay chị T đang làm việc Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Bắc Giang, thu nhập cụ thể bao nhiêu thì ômg không rõ.

*Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không hòa giải được vì bị đơn anh T1 vắng mặt.

*Tại phiên toà ngày 06/06/2024, bị đơn anh T1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

*Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh T1 tiếp tục vắng mặt. Nguyên đơn chị T có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên quan điểm trong hồ sơ vụ án.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự (vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa không lý do).

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị T được ly hôn anh Nghiêm Xuân T1.
  • + Về con chung: Giao chị Trịnh Thị T nuôi 2 con chung là Nghiêm Hải N, sinh ngày 17/09/2007 và Nghiêm Hải Đ, sinh ngày 26/07/2012. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  • + Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • + Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
  • + Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Chị T phải chịu 6.000.000 đồng lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nghiêm Xuân T1 cư trú tại xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền, đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Trịnh Thị T có đơn xin vắng mặt. Bị đơn anh Nghiêm Xuân T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn ngày 29/01/2007 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T và anh T1 có mâu thuẫn, đã ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh T1 đều vắng mặt, chị T cương quyết ly hôn chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh T1 và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị T về việc ly hôn anh T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung:

[4.1] Chị T và anh T1 có hai con chung Nghiêm Hải N, sinh ngày 17/09/2007 và Nghiêm Hải Đ, sinh ngày 26/07/2012, hiện đang sống cùng chị T. Xét thấy, hiện nay chị T có việc làm, nơi ở ổn định nên cần giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của cả hai con chung Nghiêm Hải N, Nghiêm H.

[4.2] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4.3] Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Chị T phải chịu 6.000.000 đồng lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo qui định tại Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 147, Điều 180, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị T được ly hôn anh Nghiêm Xuân T1.
  2. Về con chung: Giao chị Trịnh Thị T nuôi hai con chung là Nghiêm Hải N, sinh ngày 17/09/2007 và Nghiêm Hải Đ, sinh ngày 26/07/2012. Về cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

  1. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001657 ngày 18/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  2. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Chị T phải chịu 6.000.000 đồng lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Xác nhận chị T đã thi hành xong.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang;
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Song Mai, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị T - Nghiêm Xuân T1 Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger