TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày 24-6-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Xuyến;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Bình,
- Ông Vũ Đức Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1991; đăng ký thường trú: Thôn N, xã Q, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Thôn 13, xã H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Chu Văn U, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải, nguyên đơn là chị Vũ Thị N trình bày:
Chị N và anh Chu Văn Ư tự nguyện kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Q ngày 27/8/2009. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, một phần do anh U ham chơi, không quan tâm đến gia đình. Chị N đã nhiều lần khuyên can nhưng anh Ư không chịu thay đổi nên vợ chồng thường xảy ra xô xát, cãi nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, chị N yêu cầu được ly hôn anh Ư. Chị và anh Ư có 03 con chung là Chu Văn Đ, sinh ngày 16/10/2010, Chu Thị N, sinh ngày 05/5/2012 và Chu Thị U, sinh ngày 30/01/2018. Kể từ khi ly thân, các con chung do anh Ư trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị N đề nghị Toà án giao cả 03 con cho anh Ư trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N tự thoả thuận với anh Ư về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Chu Văn Ư trình bày:
Những nội dung chị N trình bày về thời gian, địa điểm kết hôn, tình trạng mâu thuẫn, thời gian sống ly thân giữa anh chị là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị N yêu cầu ly hôn, anh Ư đồng ý ly hôn. Anh chị có 03 con chung như chị N trình bày. Kể từ khi anh chị sống ly thân, các con chung do anh trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không quan tâm đến các con. Do con chung có nguyện vọng ở với anh nên khi ly hôn, anh đồng ý nhận trực tiếp nuôi cả 03 con. Anh Ư tự thoả thuận với chị N về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Anh Ư và chị N có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q theo quy định pháp luật. Anh chị sống hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị N về nhà mẹ đẻ sinh sống do anh Ư chơi bời cờ bạc, nợ nần nhiều, một phần do chị N có quan hệ ngoại tình bị gia đình anh Ư bắt gặp nên xấu hổ bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, anh chị sống ly thân nhau từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Anh chị có 03 con chung hiện do anh Ư chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Ư là lao động tự do, có công việc, thu nhập ổn định, bố mẹ anh Ư ở gần hỗ trợ anh Ư chăm sóc, nuôi dạy các con.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, mở phiên họp, hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên họp, phiên hoà giải, phiên tòa là thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Chu Văn Ư; giao 03 con Chu Văn Đ, sinh ngày 16/10/2010, Chu Thị N, sinh ngày 05/5/2012 và Chu Thị U, sinh ngày 30/01/2018 cho anh Ư trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị N thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; anh Chu Văn Ư là bị đơn, hiện đang cư trú tại: Thôn N, xã Q, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn (chị N) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên toà và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn (anh U) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị N, anh Ư.
- Về nội dung:
[3] Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị N và anh Chu Văn Ư được xác lập từ ngày 27/8/2009 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hoà thuận được 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, một phần do anh Ư ham chơi cờ bạc, nợ nần nhiều; một phần do chị N phát sinh quan hệ ngoại tình nên vợ chồng xảy ra xô xát, cãi nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay, không quan tâm đến nhau. Như vậy, có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và nguyện vọng của anh Ư nên cần được chấp nhận, xử cho chị N được ly hôn anh Ư.
[4] Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Chu Văn Đ, sinh ngày 16/10/2010, Chu Thị N, sinh ngày 05/5/2012 và Chu Thị U, sinh ngày 30/01/2018. Chị N và anh Ư đều có nguyện vọng giao cả 03 con cho anh Ư trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Đ, cháu N đều trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với bố. Anh Ư hiện làm máy xúc, có thu nhập ổn định; bố mẹ anh Ư có thể hỗ trợ anh Ư chăm sóc các con. Để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ nguyện vọng của anh, chị và các con, cần căn cứ các khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, giao 03 con chung cho anh Ư trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (chị Vũ Thị N):
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N được ly hôn anh Chu Văn Ư.
- Về con chung: Giao con Chu Văn Đ, sinh ngày 16/10/2010; Chu Thị N, sinh ngày 05/5/2012 và Chu Thị U, sinh ngày 30/01/2018 cho anh Chu Văn Ư trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con do các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị N đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0008962 ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
Chị N, anh Ư vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Xuyến |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh cháp nuôi con
