Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG NGUYÊN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phan Hương;

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thắng;
  2. Ông Nguyễn Văn Tường;

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Cao Văn V, sinh ngày 10 tháng 03 năm 1991 tại huyện H, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Xuân T, (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; Vợ: Trần Thị M sinh năm 1995 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPVPHC ngày 03/3/2014 của Công an huyện H, tỉnh Nghệ An xử phạt 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) về hành vi “Đánh bạc”. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPVPHC ngày 20/11/2017 của Công an huyện H, tỉnh Nghệ An xử phạt 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Nghệ An. (Có mặt tại phiên tòa)
  2. Trần Văn A, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1987 tại huyện H, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú thôn M, xã H, Huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị L sinh năm 1955; vợ Thái Thị M1 sinh năm 1988, con: Có 01 con sinh năm 2006; tiền án,

tiền sự không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHC ngày 20/11/2017 của Công an huyện H, tỉnh Nghệ An xử phạt: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 20/11/2017, bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (Có mặt tại phiên toà)

Người bị hại:

  1. Ông Hà Huy V1, sinh năm 1961; địa chỉ cư trú tại: K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú tại khối I, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt.)
  2. Anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú tại làng T, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt.)
  3. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú tại Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
  4. Anh Cao Xuân D1, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú tại Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 23 tháng 02 năm 2024, Trần Văn A sử dụng tài khoản zalo tên hiển thị “Anh T2” gọi đến tài khoản zalo tên hiển thị “Caoxuanhung” của Cao Văn V để rủ đi uống bia. Vị đồng ý điều khiển xe mô tô BKS 37M3-3092 Nouvo, nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ đen đến nhà Anh ở thôn M, xã H, huyện H đón A. Khi đến nhà A, do không có tiền uống bia nên A rủ Vị đi trộm cắp tài sản, V đồng ý. Cao Văn V chở Trần Văn A đi trên các trục đường ở huyện H tìm kiếm nhà dân nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà ông Hà Huy V1 (SN 1961), tại khối A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An, thấy cửa cổng và cửa nhà ông V1 không khóa nên A bảo V dừng xe lại, đứng ở ngoài cảnh giới còn Anh đi bộ vào nhà, quan sát không có ai ở nhà nên lén lút đi vào nhà ngang trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 2 màu đen, viền màu xám; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu HUAWEI màu vàng đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21 màu trắng để ở bàn ăn. Sau khi trộm cắp được tài sản, Trần Văn A bỏ hai chiếc điện thoại vào túi áo, còn máy tính bảng cầm ở tay rồi nhanh chóng đi ra lên xe Vị đang chờ ở ngoài. Vị điều khiển xe mô tô đi đến địa bàn xã H, huyện H. Đi được một đoạn, Anh đưa máy tính bảng màu vàng đồng cho V để cất dấu dưới cốp xe mô tô và một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 2 màu đen, viền màu xám và nói “Cho mi đó, máy tau vừa lấy xong mi lấy thì lấy chớ không bản

được mô”. Biết đó là chiếc điện thoại vừa trộm cắp được, V lấy bỏ vào trong túi quần rồi tiếp tục chở A đi. Khi đi qua cửa hàng điện thoại di động Đ, tại làng Đ, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, Trần Văn A nói V quay xe lại để vào bán chiếc máy tính bảng vừa trộm cắp được. Đến quán, cả hai dừng xe, Vị mở cốp xe lấy máy tính bảng đưa cho Anh rồi đứng chờ ở ngoài, A cầm máy tính bảng vào gặp Nguyễn Đức H1 (SN 1992), trú tại làng T, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và bán với giá 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng). H1 chuyển khoản số tiền đó từ số tài khoản 1025164636, Ngân hàng V2 của mình vào số tài khoản 0921.370.721, ngân hàng M2 của Cao Văn V. Khi nhận được tiền cả hai cùng nhau đi ăn uống hết 200.000 đồng, số tiền còn lại Anh chia cho V 300.000 đồng, còn Anh giữ lại 400.000 đồng, rồi cả hai đi về. Đến ngày 04/3/2024, Trần Văn A đi đến cửa hàng điện thoại di động của anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1976, trú tại xóm A, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An tại khối I, thị trấn H, huyện H bán 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21 màu trắng với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) để lấy tiền tiêu dùng, Ngày 23/02/2024, ông Hà Huy V1 đến Công an thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An để trình báo sự việc bị kẻ gian trộm cắp một số tài sản

Ngày 27/02/2024, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Cao Văn V ra đầu thú. Đến ngày 08/3/2024, Trần Văn A ra đầu thú về hành vi “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại khối I, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An vào ngày 23/02/2024.

Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-ĐGTS ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 2 màu đen, viền màu xám, số seri E1MGAP27C1831578 đã qua sử dụng, được mua mới từ thời điểm tháng 8/2022, thời điểm định giá ngày 23/02/2024 trị giá 700.000 đồng. 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu HUAWEI mediapad t3 10 màu vàng đồng đã qua sử dụng, số imei 868355035747095, được mua mới từ thời điểm tháng 11/2020, thời điểm định giá ngày 23/02/2024 trị giá 1.790.000 đồng. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21 màu trắng, đã qua sử dụng được mua mới từ thời điểm tháng 04/2023, thời điểm định giá ngày 23/02/2024 trị giá 2.900.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.390.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) điện thoại di động OPPO A5s, kiểu máy CPH1912, số sê-ri UGEMMVTKW4HAFUGM, màu đỏ, số thuê bao 0921.370.721, máy đã qua sử dụng. 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, màu đỏ đen, có biển kiểm soát 37M3-3092, đã qua sử dụng là tài sản của Cao Văn V. Các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện H. 01 (Một) điện thoại di động NOKIA 2 vỏ ốp màu đen, viền màu xám, số sê ri: E1MGAP27C1831578, đã qua sử dụng trả; 01 (Một) máy tính bảng nhãn

hiệu HUAWEI màu vàng, số imei 868355035747095, đã trả cho bị hại là ông Hà Huy V1. 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21 màu trắng, đã qua sử dụng, không thu hồi được.

Về phần dân sự

Bị hại ông Hà Huy V1 đã nhận lại tài sản và số tiền đền bù chiếc điện thoại Vivo Y21 nên không có yêu cầu đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Anh Nguyễn Đức H1 đã nhận lại số tiền mua chiếc máy tính bảng của Cao Văn V và Trần Văn A nên không yêu cầu đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Bản Cáo trạng số 31/CT-VKS-HN ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện như nội dung vụ án nêu trên.

Đối với anh Nguyễn Văn H2 và anh Nguyễn Tiến D là những đã mua điện thoại của Cao Văn V và Trần Văn A trộm cắp được mà có, nhưng do anh H2 và D không biết đó là tài sản phạm tội mà có nên không phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Cao Văn V và Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Cao Văn V và Trần Văn A từ 4 tháng tù đến 5 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO A5s, kiểu máy CPH1912, số sê-ri UGEMMVTKW4HAFUGM, màu đỏ, máy đã qua sử dụng và 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, màu đỏ đen, có biển kiểm soát 37M3-3092, đã qua sử dụng là tài sản và phương tiện của Cao Văn V dùng vào việc phạm tội. Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo đã sai nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên

đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra, truy tố của các bị cáo là thống nhất với nhau. Phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú hồi 14 giờ 00 phút ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại Công an huyện H; phù hợp lời khai của người bị hại, người liên quan; phù hợp với Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-ĐGTS ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ để kết luận: Vào khoảng 13 giờ ngày 23/02/2024, Trần Văn A và Cao Văn V đã lén lút đột nhập vào nhà ở của ông Hà Huy V1 ở khối A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An lấy trộm 01 (Một) điện thoại di động NOKIA 2 màu đen, viền màu xám, 01 (Một) máy tính bảng nhãn hiệu HUAWEI màu vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21 màu trắng có tổng trị giá 5.390.000đ (Năm triệu ba trăm chín mươi nghìn) đồng.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

1. " Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù tù 6 tháng đến 03 năm...."

Như vậy, căn cứ vào hành vi của các bị cáo và đối chiếu với quy định của Điều luật nêu trên, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Có tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Lợi dụng sự sơ hở khi thấy cửa cổng và cửa nhà ông Hà Huy V1 không khóa nên các bị cáo đã lén lút đi vào nhà ngang trộm cắp tài sản. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo biết và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền một cách nhanh chóng mà không phải lao động vất vả nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm mới đủ tính chất răn đe và giáo dục đối với bị cáo.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn A và Cao Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn A và Cao Văn V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội khắc phục, bồi thường thiệt hại; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội ra đầu thú. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i và s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hà Huy V1 đã nhận lại tài sản và số tiền đền bù chiếc điện thoại Vivo Y21 nên không có yêu cầu đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự. Anh Nguyễn Đức H1 đã nhận lại số tiền mua chiếc máy tính bảng của Cao Văn V và Trần Văn A nên không yêu cầu đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự.

[9]. Về xử lý vật chứng: Một (01) điện thoại di động OPPO A5s, kiểu máy CPH1912, số sê-ri UGEMMVTKW4HAFUGM, màu đỏ, máy đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Một (01) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, màu đỏ đen, có biển kiểm soát 37M3-3092, đã qua sử dụng là tài sản của anh Cao Xuân D1 mua của anh Nguyễn Văn H2. Hiện nay, anh H2 không có mặt tại địa phương, khi mua chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Do chiếc xe là phương tiện bị cáo Cao Văn V dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Trường hợp anh D1 và bị cáo V có tranh chấp thì xử lý bằng một vụ án khác theo quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng Hình sự.

[10]. Về án phí: Căn cứ Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn V, Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i và s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cao Văn V 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 27 tháng 2 năm 2024.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn A 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 08 tháng 3 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO A5s, kiểu máy CPH1912, số sê-ri UGEMMVTKW4HAFUGM, màu đỏ, máy đã qua sử dụng và 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, màu đỏ đen, có biển kiểm soát 37M3-3092, đã qua sử dụng. (Chi tiết có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 5 năm 2024)

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố Tụng Hình sự buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo bản án đối với bị cáo có mặt là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hưng Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Hưng Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên;
  • - Bị cáo; người bị hại; người liên quan;
  • - Trại tạm giam; THA hình sự;
  • - TAND tỉnh NA;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vị
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger