|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 29/2024/DS-ST Ngày 24 tháng 5 năm 2024 “V/v tranh chấp dân sự, vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, ông Huỳnh Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 301/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-DS ngày 22/4/2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Tô Thị N, sinh năm 1930, nơi cư trú: ấp N, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bạch H, sinh năm 1977; ông Mai Khánh A, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ E, đường L, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Tô Thị N trình bày:
Ngày 15/3/2023 (âm lịch) bà có cho bà H vay 4.000.000 đồng không tính lãi suất. Đến ngày 16/3/2023 (âm lịch) bà N cho bà H vay thêm 15.000.000 đồng, chỉ nói bằng miệng, lúc này bà H có nhờ con là Mai Khánh A đến nhận tiền từ bà. Quá trình vay, bà H có đóng lãi 2 lần tổng cộng 2.700.000 đồng từ tháng 6/2023 bà H chưa trả vốn, lãi. Bà N nhiều lần yêu cầu bà H trả nợ nhưng bà H không thực hiện. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu bà H, K liên đới trách nhiệm trả bà số tiền 21.000.000 đồng tiền vốn và lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, bà N rút lại yêu cầu khởi kiện đối với Khánh A; xác định yêu cầu bà H trả 21.000.000 đồng.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp Biên bản hòa giải cơ sở của B khóm V, phường N ngày 14/10/2023.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà H khai có vay tiền và trả lãi như bà N trình bày, mục đích vay tiền để sinh hoạt ăn uống, cà phê hàng ngày. Thống nhất còn nợ số tiền 21.000.000 đồng của bà N. Do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả mỗi tháng 1.000.000 đồng và xin không tính lãi.
Tòa án tiến hành Tòa án tiến hành đối chất và hòa giải giữa các đương sự nhưng bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn xác định yêu cầu bà H trả số tiền vốn vay 19.000.000 đồng; rút lại đối với yêu cầu khởi kiện Mai Khánh A và số tiền 2.000.000 đồng.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán xác định thẩm quyền; thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định. Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, bà N có mặt, bà H và Khánh A vắng lần thứ hai không lý do, nên thuộc trường hợp xét xử vắng mặt bà H và Khánh A theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015.
+ Về giải quyết vụ án: Căn cứ Biên bản hòa giải tại B khóm V, phường N và lời khai của bà H thì bà N khởi kiện là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị chấp nhập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả số tiền 19.000.000 đồng theo Điều 463, 466 của BLDS năm 2015. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với Mai Khánh A và số tiền 2.000.000 đồng mà bà N đã rút theo Điều 244 BLTTDS năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ; bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).
[2] Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, và Điều 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Nguyên đơn tự nguyên rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn Mai Khánh A và số tiền 2.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ theo khoản 2 Điều 244 BLTTDS.
Về nội dung:
[4] Về yêu cầu khởi kiện:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 19.000.000 đồng. Xét thấy tại biên bản hòa giải của Ban khóm V, phường N ngày 14/10/2023 và lời khai của bà H thấy rằng nguyên đơn, bị đơn có xác lập giao dịch vay tài sản bằng miệng, bà H đã nhận tiền vay mà không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên bà N yêu cầu là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự. Buộc bà H trả cho bà N số tiền 19.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về lãi suất : Bà N không yêu cầu trả lãi vay nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền 19.000.000 đồng nên phải chịu án phí số tiền 950.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ cào:
- - Các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Các Điều 147, khoản 2 Điều 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị N.
Buộc bà Nguyễn Thị Bạch H trả cho bà Tô Thị N số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị N đối với Mai Khánh A và số tiền 2.000.000 đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Tô Thị N không phải chịu án phí.
Bà Nguyễn Thị Bạch H phải chịu số tiền 950.000 (chín trăm, năm mươi nghìn) đồng.
3. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị đơn vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương |
Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
- Số bản án: 29/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị N
