Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Nguyên;

Bà Lương Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/ TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/9/2003, tại: Thái Nguyên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Dương Văn T1 - Sinh năm: 1979; Con bà: Nguyễn Thị T2 - Sinh năm: 1983; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 340/QĐ-XPVPHC ngày 05/3/2021 của Chủ tịch UBND thành phố S xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Văn T về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo”. Chấp hành xong ngày 08/3/2021.
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 90425/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2021 của Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Văn T về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Chấp hành xong ngày 12/11/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26/3/2004; tại Thái Nguyên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn S - Sinh năm: 1975; Con bà: Chu Thị H - Sinh năm: 1984; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; (có mặt).

* Bị hại: Anh Đặng Văn V, sinh năm 2003;

Trú tại: Tổ dân phố M, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Phùng Văn L, sinh năm 2005;

Trú tại: Xóm A, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt);

  • Ông Dương Văn T1, sinh năm 1979;

Trú tại: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).

  • Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1975;

Trú tại: Xóm T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).

* Người làm chứng: Anh Lại Quang M, sinh năm 2002;

Trú tại: Xóm A Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/11/2023, Dương Văn T cùng Nguyễn Văn T3 đến phòng trọ của Hoàng Thị Vân O (sinh năm: 2004, HKTT: Xóm C, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) thuộc xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên chơi. Tại đây, T sử dụng điện thoại Iphone 7, màu đen đã mượn của Phùng Văn L (sinh năm: 2005, trú tại: Xóm A, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) trước đó và sử dụng đăng nhập vào tài khoản Facebook “Thinh Duong” thì đọc được tin bài bán điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh từ tài khoản Facebook “Đặng Văn V” của anh Đặng Văn V (sinh năm: 2003, trú tại tổ dân phố (TDP) T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) trên trang “CHỢ ĐIỆN THOẠI CŨ THÁI NGUYÊN”. Lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của anh V. Sau đó, T sử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin từ tài khoản Facebook “Thinh Duong” đến tài khoản Facebook “Đặng Văn V” hỏi giá bán chiếc điện thoại di động trên nhưng không thấy trả lời. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày T mượn điện thoại của L đăng nhập vào Facebook “Thinh Duong”, rồi nhắn tin qua ứng dụng Messenger với anh V, T và anh V thỏa thuận giá bán chiếc điện thoại là 6.400.000đồng và địa điểm giao dịch tại đoạn đường đối diện Khu D (thuộc TDP K, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên), anh V đồng ý. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, T rủ T3 đi chuộc chiếc điện thoại di động mà T đã cầm cố tại khu vực cầu R, thuộc phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì T3 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20E1-433.23 của Nguyễn Văn T3, chở T3 đi qua cầu vượt Điềm T4 không rẽ đi hướng cầu R, phường H, thành phố P để chuộc điện thoại mà đi qua cầu vượt Điềm Thuỵ hướng ngã tư Khu công nghiệp S. Lúc này, T3 hỏi T “không đi nhổ điện thoại hả anh” thì T trả lời “sang bên D T5 ở Sông C anh lấy điện thoại của thằng bán rồi mày chở anh đi, bán được anh chia cho mày một nửa”, T3 đồng ý và trả lời “Ừ đi đi”, T hỏi T3 “mày có sợ không” thì T3 trả lời “Sợ cái gì anh”. Khi đến đoạn đường đối diện Khu D, thuộc TDP K, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, T đỗ xe tại lối mở giao cắt giữa đường đôi và đường Q rồi dừng lại sát mép đường bên phải đầu xe hướng đường Q, T3 ngồi trên xe mô tô, T ngồi tại mép đường để đợi anh V mang điện thoại di động đến. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, anh V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 20E1-433.23 chở anh Lại Quang M (sinh năm: 2002, trú tại xóm A Đ, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) đến đỗ gần T đang ngồi và hỏi “anh là người hỏi mua điện thoại phải không” T trả lời “vâng”. Anh V xuống xe và đưa cho T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, T cầm điện thoại kiểm tra và thương lượng giá tiền với anh V mục đích để tìm thời điểm anh V sơ hở không đề phòng sẽ cầm điện thoại, rồi nhanh chóng lên xe T3 đã nổ máy sẵn và bỏ chạy. T mượn sim điện thoại và que chọc sim của anh V lắp sim vào điện thoại và gọi đến số tổng đài 1588 và số điện thoại 0985.013.xxx của anh M để kiểm tra mic và loa. Cùng lúc này, T3 bảo đi mua thuốc lá nhưng mục đích là quay đầu xe, nổ máy đợi T lấy được điện thoại lên xe để bỏ chạy. Khoảng 2-3 phút sau T3 điều khiển xe mô tô quay lại, T đi ra gần chỗ T3 nói nhỏ “Lúc nào anh lên xe thì mày đèo anh chạy đi nhé”, T3 hiểu ý của T lấy được điện thoại thì điều khiển xe bỏ chạy nên không nói gì. Tiếp đó, T giả vờ chuyển tiền cho anh V nhưng không chuyển được nên lấy sim số 0348881755 của T lắp vào điện thoại nói để lấy mã OTP. Sau đó, T nói với anh V “không chuyển được tiền, để em ra xe lấy tiền mặt”, anh V nhìn thấy tài khoản của T không có tiền nên đi cùng với T ra vị trí T3 dừng xe, anh V thấy T đi nhanh về hướng T3 rồi nhanh chóng lên xe và nói “đi đi”, ý bảo T3 điều khiển xe bỏ chạy, T3 tăng ga bỏ chạy thì anh V dùng tay cầm vào áo của T3 và tay phải T giằng, kéo lại nên xe mô tô bị đổ, T và T3 ngã xuống đường, anh V giật lại được chiếc điện thoại di động trên tay phải T và bị ngã xuống đường. T và T3 dậy dựng xe định bỏ chạy thì anh M chạy đến ôm giữ được T3, T3 giẫy vùng ra được nên anh M đạp đổ xe môtô. Lúc này, Tổ tuần tra của Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đi đến, thấy vậy T và T3 bỏ chạy khỏi hiện trường, sau đó tổ công tác đã lập biên bản sự việc, tiến hành khám nghiệm hiện trường và tạm giữ vật chứng gồm: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 20B2 – 305.04, đã qua sử dụng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 20E1-433.23, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, bên trong lắp 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0348.881.xxx, đã qua sử dụng.

Tại kết luận định giá số 43/KL-HDĐGTS, ngày 20/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố S, kết luận giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, dung lượng 64GB, bản VN/A, đã qua sử dụng là 6.333.000 đồng.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Đặng Văn V. Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1062/KLTTCT-TTPY ngày 21/12/2023 của T6 pháp y Sở Y, kết luận:

  1. Các kết quả chính: Hiện tại có 05 sẹo vết thương phần mềm KT nhỏ.
  2. Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp ý, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Văn V tại thời điểm giám định là: 5%. Cơ chế hình thành thương tích do tác động với vật tày.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20B2-305.04, sơn màu đen, đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đặng Văn V là chủ sở hữu quản lý sử dụng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng do T giao nộp ngày 20/11/2023; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20E1-433.23, sơn màu đen-bạc, đã qua sử dụng; 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0348.881.xxx, mặt sau sim có dãy số 8984048000904163375. Hiện đang được bảo quản theo quy định theo đúng quy trình quản lý vật chứng.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã nhờ bố đẻ của mình đứng ra tự nguyên bồi thường cho bị hại V số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) bù đắp tổn thất về tinh thần cho bị hại.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo T3, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội vào ngày 19/11/2023. T3T khẳng định khoảng 20 giờ 10 phút ngày 19/11/2023, tại đoạn đường đối diện Khu D, thuộc TDP K, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn T3 cùng Dương Văn T đã thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, đã qua sử dụng của anh Đặng Văn V có giá trị 6.333.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của các bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T3, Dương Văn T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự;

Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T3, Dương Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Bị cáo Dương Văn T từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định; Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường cho anh V số tiền 5.000.000đồng, anh V không có yêu cầu, đề nghị gì nên không xem xét, giải quyết; Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho anh Phùng Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng, 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0348.881.xxx; Tịch thu sung công quỹ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20E1-433.23, sơn màu đen-bạc, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T3, vì liên quan đến hành vi phạm tội. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo xác định việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy sau khi phạm tội và trong thời gian bị giam giữ các bị cáo đã nhận ra được sai lầm khuyết điểm của mình và rất ân hận, các bị cáo xin lỗi bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương để có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do không có tiền tiêu sài T nẩy sinh ý định chiếm đoạt của người khác để có tiền đi chuộc điện thoại di động mà T đã cầm cố tại khu vực cầu R, thuộc phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên trước đó, nên đã rủ T3 và được T3 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20E1-433.23 của Nguyễn Văn T3, chở T3 đi qua cầu vượt Đ. Trên đường đi T có rủ T3 đi đến khu D T5 lấy điện thoại của người bán lấy tiền chia nhau (mục đích là cướp điện thoại) và được T3 đồng ý. T3T đã thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, đã qua sử dụng của anh Đặng Văn V có giá trị 6.333.000 đồng. Hành vi, ý thức nêu trên của Dương Văn T, Nguyễn Văn T3 đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự;

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 171: Tội cướp giật tài sản.

1.“Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

3.1. Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của các bị cáo là do các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, lười lao động, hám lợi muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn việc tiêu sài cá nhân nên nhất thời phạm tội. Việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết.

3.2. Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có người chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, chỉ huy hay phân công nhiệm vụ, mà chỉ do các bị cáo bột phát nẩy sinh ý định chiếm đoạt nên cùng rủ nhau thực hiện. Bị cáo Dương Văn T tham gia với vai trò là người khởi sướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Văn T3 đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bị cáo T3 thực hiện hành vi điều khiển xe nhằm tẩu thoát, thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt bị hại đã tạm giao tài sản cho bị cáo quản lý, sau đó bị cáo mới lên xe nhằm tẩu thoát thì bị bắt giữ.

3.3. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Cả hai bị cáo xuất thân từ người dân lao động, không có tiền án, tiền sự. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, năm 2021 bị cáo đã hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo” và hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” nhưng đã chấp hành xong tháng 11/2021. Bị cáo T3 không có tiền án, tiền sự, bị rủ rê nên nhất thời phạm tội.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, khi phạm tội các bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại với số tiền 5.000.000đồng (mỗi bị cáo 2.500.000đồng). Nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra bị hại anh V có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nên cho các bị cáo được thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có đơn xin cải tạo tại địa phương, được địa phương xác nhận và đề nghị tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương. Xét đơn xin cải tạo tại địa phương của bị cáo T3, bị cáo T, xem xét về nhân thân thấy các bị cáo là người có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi mình gây ra. Nên có căn cứ chấp nhận lời thỉnh cầu của các bị cáo, đề nghị của bị hại và đại diện Viện kiểm sát, nên cho các bị cáo T3, T được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương mà không cần cách ly bị cáo K vẫn có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã tác động nhờ bố đẻ của mình đứng ra tự nguyên bồi thường cho bị hại anh V số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) bù đắp tổn thất về tinh thần cho bị hại. Tại phiên tòa xác định số tiền bồi thường là tiền của bị cáo. Việc bồi thường này của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện. Anh V không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 20E1-433.23, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T3 là công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng; 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0348.881.xxx, mặt sau sim có dãy số 898404800090416337501 T mượn của anh Phùng Văn L để thực hiện hành vi phạm tội, nhưng anh L không biết T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh L quản lý, sử dụng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, bên trong lắp 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0348.881.xxx, đã qua sử dụng; 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 20B2 – 305.04 là tài sản hợp pháp của anh V, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đặng Văn V là chủ sở hữu quản lý sử dụng là đúng quy định.

[6]. Về án phí: Bị cáo T3, bị cáo T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T3, Dương Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Án lệ số 57/2023/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao thông qua vào các ngày 01,02,03 tháng 02 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Dương Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Nguyễn Văn T3, Dương Văn T.

3. Căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn T3, bị cáo Dương Văn T ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 20E1-433.23, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T3;
  • Trả lại cho anh Phùng Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu T; 01 sim mạng Viettel số thuê bao 0348.881.xxx, mặt sau sim có dãy số 8984048000904163375;

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Công an thành phố Sông Công với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công ngày 25/3/2024).

6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T3, Dương Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo Nguyễn Văn T3, Dương Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T1, ông Nguyễn Văn S, vắng mặt anh L, anh V. Báo cho những người có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết kết quả xét xử theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Sông Công;
  • - Công an TP. Sông Công;
  • - Cơ quan THAHS TP Sông Công;
  • - Chi cục THADS TP Sông Công;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu: HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về cướp giật tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Dương Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger