|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST |
Ngày 24-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đinh Thị Tâm;
Ông Nguyễn Duy Pha.
Thư ký phiên toà: Bà Lăng Thị Em - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Mã Thị Kim Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 các bị cáo:
- Đinh Văn P; sinh ngày 16 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn N (đã chết) và bà Trần Thị X (sinh năm 1951); vợ: Luân Thị H; con: Có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPVPHC ngày 09/02/2015 của Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã thi hành xong); bị tạm giữ ngày 28/12/2023, tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến nay. Có mặt.
- Trần Đình H1; sinh ngày 30 tháng 10 năm 1988 tại tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình N1 (đã chết) và bà Phạm Thị Y (sinh năm 1962); vợ: Từ Thị Loan (đã ly hôn), con: Có 01 con sinh năm 2013; tiền án: Tại Bản án số 44/2022/HS-ST ngày 30/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 44/QXPHC ngày 07/4/2010 của Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt 750.000 đồng về hành vi mua dâm; tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 117/QĐ-XPHC ngày 08/12/2021 của Công an xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và Quyết định số 84/QĐ-XPHC ngày 06/5/2022 của Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; bị tạm giữ ngày 28/12/2023, tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Phùng Đình H2, sinh năm 1982. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ, ngày 28/12/2023, bị cáo Đinh Văn P một mình bắt xe khách từ nhà đến thị trấn N, huyện V mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đang đi bộ đến đoạn ngã ba H thuộc khu D, thị trấn N, Đinh Văn P gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ) làm nghề xe ôm. Người đàn ông hỏi Đinh Văn P có nhu cầu mua ma túy không, Đinh Văn P nói có và hỏi mua 600.000 đồng tiền ma túy heroine, người đàn ông đồng ý, nhận tiền bảo Đinh Văn P đợi, sau đó điều khiển xe mô tô đi về hướng chợ N2. Khoảng 15 phút sau người đàn ông đó quay lại, lấy từ trong người đưa cho Đinh Văn P 04 gói giấy kẻ dòng màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột màu trắng là chất ma túy heroine. Bị cáo Đinh Văn P nhận lấy số ma túy trên cất vào trong túi áo bên trái đang mặc trên người rồi bắt xe khách đi về nhà. Khoảng 09 giờ khi đến khu vực chợ T1, thuộc khu B, xã T, huyện V, Đinh Văn P xuống xe đi bộ mục đích tìm nơi vắng để sử dụng ma túy. Khi đi được khoảng 200 mét, Đinh Văn P gặp Trần Đình H1 hỏi mua chất ma tuý, Đinh Văn P đồng ý bán cho Trần Đình H1 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó, Đinh Văn P đi bộ đến bãi đất sau chợ T2 sử dụng hết 01 gói ma túy bằng hình thức hít, 02 gói ma túy còn lại cất vào túi áo khoác và đi bộ về nhà. Khoảng 11 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an huyện V đến nhà, Đinh Văn P đã tự giác giao nộp số ma túy và khai nhận toàn bộ hành vi như trên.
Cùng ngày, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma tuý Công an huyện V phối hợp với Công an xã T làm nhiệm vụ tại khu vực bãi kiểm hoá thuộc khu B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Trần Đình H1 có hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 gói giấy kẻ dòng màu trắng, bên trong gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý heroine.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ ma túy và các vỏ bao gói, thu giữ của Đinh Văn P 01 thẻ căn cước công dân và 200.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Một phong bì thư ghi chữ “QT Trần Đình H1” bên trong có chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma tuý heroine, có khối lượng 0,127 gam (đã trừ bì). Một phong bì thư ghi chữ “MT Đinh Văn P” bên trong có chất bột màu trắng gửi giám định là đều là chất ma tuý heroine, có tổng khối lượng 0,196 gam (đã trừ bì).
Tại Kết luận giám định số 305/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Tờ tiền Việt Nam 200.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Đình H1, Đinh Văn P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Bị cáo Đinh Văn P khai số tiền 200.000 đồng bị cáo có được do bán 01 gói ma túy cho Trần Đình H1; bị cáo xin lại căn cước công dân bị thu giữ do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Đinh Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Đình H1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn P, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đình H1, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu được sau giám định và các vỏ bao gói, trả lại cho bị cáo Đinh Văn P 01 thẻ căn cước công dân số [...], tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, Đinh Văn P đã mua 600.000 đồng ma tuý heroine với một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ được 04 gói ma túy với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Đến 09 giờ cùng ngày, tại khu vực khu B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Đinh Văn P đã bán cho Trần Đình H1 01 gói ma tuý heroine với giá 200.000 đồng có khối lượng 0,127 gam (đã trừ bì). Bị cáo Đinh Văn P đã sử dụng hết 01 gói ma túy. Khám xét nhà ở của Đinh Văn P thu giữ 02 gói ma tuý có khối lượng 0,196 gam (đã trừ bì).
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo Đinh Văn P, Trần Đình H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời, nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cố ý thực hiện.
[5] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Đình H1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo là có căn cứ.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/6/2022, bị cáo Trần Đình H1 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/3/2023, tính đến ngày phạm tội lần này chưa được xóa án tích. Do vậy lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đinh Văn P không có tình tiết tăng nặng.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Đinh Văn P có bố đẻ được trao tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân: Bị cáo Đinh Văn P đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, mặc dù đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, tuy nhiên đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt. Bị cáo Trần Đình H1 có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản; đã 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, có nhân thân xấu.
[9] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không sở hữu tài sản có giá trị; bị cáo Đinh Văn P là gia đình thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[10] Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho bị cáo Đinh Văn P do không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý trong vụ án này.
[11] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét thấy, chất ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và các vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 200.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước; trả lại cho bị cáo Đinh Văn P 01 thẻ căn cước công dân do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[12] Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[14] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn P;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đình H1;
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh
- Về hình phạt
- Xử lý vật chứng
- 01 (một) phong bì có chữ “QT Trần Đình H1” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng 0,115 gam heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).
- 01 (một) phong bì có chữ “MT Đinh Văn P” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng 0,173 gam heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).
- Án phí
- Quyền kháng cáo
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Tuyên bố bị cáo Trần Đình H1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn P 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/12/2023).
Xử phạt bị cáo Trần Đình H1 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/12/2023).
3.1. Tịch thu tiêu hủy:
3.2. Trả lại cho bị cáo Đinh Văn P 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Đinh Văn P.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/3/2024 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
3.3. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 200.000 (hai trăm nghìn) đồng đã được nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Lệnh thanh toán ngày 22/3/2024, số tham chiếu 2420410304459005 của Ngân hàng N3, Chi nhánh huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
Các bị cáo Đinh Văn P, Trần Đình H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
6
7
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, Đinh Văn P đã mua 600.000 đồng ma tuý heroine với một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ được 04 gói ma túy với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Đến 09 giờ cùng ngày, tại khu vực khu B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Đinh Văn P đã bán cho Trần Đình H1 01 gói ma tuý heroine với giá 200.000 đồng có khối lượng 0,127 gam (đã trừ bì). Bị cáo Đinh Văn P đã sử dụng hết 01 gói ma túy. Khám xét nhà ở của Đinh Văn P thu giữ 02 gói ma tuý có khối lượng 0,196 gam (đã trừ bì).
