|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 24-4-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để
Ông Ngô Văn Thum
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân
huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thị Ú, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1965 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi thường trú: ấp G, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: ấp G Xáng I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Phạm Văn L (đã chết) và bà Bùi Thị X (đã chết); chồng Hứa Trần H; có 02 người con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 20 phút ngày 15/3/2023, tại ấp G Xáng I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Công an huyện A kết hợp Công an xã Đ bắt quả tang Phạm Thị Ú đang thực hiện hành vi đánh bạc, bằng hình thức bán số đề. Tang vật thu giữ gồm: 01 (Một) điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A12, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (Một) cây viết mực; 01 (Một) tờ giấy có ghi nhiều con số; tiền Việt Nam 1.060.000 đồng.
Qua kiểm tra phơi số đề bán vào ngày 15/3/2023, được ghi trên tờ giấy xác định, Phạm Thị Ú bán số đề đài xổ số kiến thiết tỉnh Sóc Trăng, được tổng số tiền 615.000 đồng. Trong đó, số đầu bán được 25 con số với tổng số tiền 420.000 đồng; số lô bán được 03 con số với tổng số tiền là 195.000 đồng.
Qua kiểm tra phơi số được lưu trong điện thoại di động cá nhân của Phạm Thị Ú xác định: Phơi số đề bán ngày 14/3/2023, đài xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam gồm: Bạc Liêu, Bến Tre, Vũng Tàu, bán được tổng số tiền 3.795.000 đồng. Trong đó, đài Bạc L1 bán được 3.500.000đ; đài B bán được 235.000đ; đài Vũng Tàu bán được 60.000đ. Đối chiếu với kết quả xổ số trong ngày 14/03/2023 xác định: Có 01 con số đầu (số D) trúng thưởng với tổng số tiền là 30.000 đồng x 80 lần = 2.400.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Phạm Thị Ú đánh bạc bằng hình thức bán số đề trong ngày 14/3/2023 là 6.195.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Phạm Thị Ú xác định tính đến ngày 15/3/2023 đã tham gia đánh bạc bằng hình thức bán số đề được 15 ngày. Hình thức bán số đề là dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam để bán số đầu, tức là giải tám; số đuôi, tức là hai con số cuối giải đặc biệt và số lô, tức là hai con số cuối của tất cả các giải thưởng. Mức độ thắng thua đối với số đầu, số đuôi và số lô là mua 1.000 đồng thắng được 80.000đ, số đầu và số đuôi mua mua 1.000đ trả 1.000đ; số lô mua 1.000đ trả 15.000đ (tính tiền 15 lô). Khi bán số đề, bị can Phạm Thị Ú ghi số vào tờ giấy, gọi là phơi, bán cho người quen qua mạng xã hội thì được lưu giữ trong điện thoại cá nhân. Quá trình bán số đề bị can Phạm Thị Ú tự bán, tự chung thưởng, không nộp phơi cho ai để hưởng hoa hồng.
Hàng ngày, bị can Phạm Thị Ú bán số đề được thấp nhất số tiền 615.000 đồng, cao nhất số tiền khoảng 4.000.000 đồng, có ngày lời có ngày lỗ, nhưng tính trung bình mỗi ngày bị can Phạm Thị Ú thu lợi được khoảng 100.000 đồng. Như vậy, trong 15 ngày đánh bạc bị can Ú thu lợi được tổng số tiền khoảng 1.500.000 đồng.
Qua điều tra cũng xác định được bị can Phạm Thị Ú có bán số đề cho các đối tượng: Bùi Thị C, Trần Thị Ngọc H1, Lê Thị Bảo Y, Phạm Thị L2, Trần Văn G. Tại Cơ quan điều tra các đối tượng trên đều thừa nhận có mua số đề của bị can Phạm Thị Ú.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ vật chứng gồm: 01 (Một) điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A12, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (Một) cây viết mực; 01 (Một) tờ giấy có ghi nhiều con số; Tiền Việt Nam 1.060.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKS-AM ngày 09-10-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Phạm Thị Út về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Phạm Thị Ú phạm tội đánh bạc và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Ú từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung từ 10 đến 20 triệu đồng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A12, màu xanh, đã qua sử dụng; tiền bán số đề ngày 15/3/2023 là 1.060.000 đồng; tiền thu lợi bất chính 1.500.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cây viết mực.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
[2.1] Ngày 15/3/2023 tại ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Phạm Thị Ú đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị bắt quả tang. Qua khai thác xác định vào ngày 14/3/2023 Phạm Thị Ú có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề (số đầu, số đuôi, số lô) các đài Miền Nam (Bạc Liêu, Bến Tre, Vũng Tàu) được số tiền 3.795.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 2.400.000 đồng, tổng cộng 6.195.000 đồng. Bị cáo tự bán, tự trả thưởng, không nộp phơi cho ai, quá trình bán số đề thu lợi bất chính được số tiền 1.500.000 đồng.
[2.2] Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc bán số đề được thua bằng tiền cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề được thua bằng tiền với số tiền đánh bạc vào ngày 14/3/2023 trên 5.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình trong nhân dân. Bị cáo liên tục thực hiện hành vi bán số đề trong nhiều ngày cho thấy chưa chấp hành tốt pháp luật nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tỏ rõ thái độ quyết tâm sửa chữa lỗi lầm bằng cách nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn khấu trừ thu nhập.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định nên cần cân nhắc để có mức phạt phù hợp, đảm bảo khả năng thi hành án của bị cáo.
[5] Về vật chứng, công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội là 01 (một) điện thoại SAMSUNG GALAXY A12, màu xanh, đã qua sử dụng; số tiền thu lợi bất chính 1.500.000 đồng và tiền bán số đề ngày 15/3/2023 là 1.060.000 đồng cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 (một) cây viết mực dùng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với Bùi Thị C, Trần Thị Ngọc H1, Lê Thị Bảo Y, Phạm Thị L2, Trần Văn G có hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Ú phạm tội Đánh bạc.
1.1- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Ú 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phạm Thị Ú cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
1.2- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Ú số tiền 10.000.000 đồng.
2- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 (Một) điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A12, màu xanh, đã qua sử dụng (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 45/QĐ-VKS-AM ngày 09-10-2023 của VKSND huyện An Minh);
- + Số tiền bán số đề ngày 15/3/2023 là 1.060.000 đồng (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý tại biên lai thu số 0004051 ngày 18-9-2023).
- + Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Phạm Thị Ú là 1.500.000 đồng (bị cáo Ú đã nộp tại biên lai thu số 0004052 ngày 19-9-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây viết mực (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 45/QĐ- VKS-AM ngày 09-10-2023 của VKSND huyện An Minh).
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Phạm Thị Ú phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24-4-2023)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị U phạm tội Đánh bạc
