Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-4-2024.

V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng Ni.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Thành Nam.

Bà Trần Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trân Quốc V - Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 266/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Âu Thị Thúy A, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Hồ Bảo N, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã M, thị xã C, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nguyên đơn chị Âu Thị Thúy A trình bày: Chị với anh Hồ Bảo N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 10/7/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc đến giữa năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N nợ tiền của người khác, khi chị biết anh N mắc nợ không lí do, từ đó cuộc sống vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, cuộc sống chung trong gia đình rất áp lực. Do con còn nhỏ nên chị đã cố gắn chịu đựng vì sợ ảnh hưởng đến con. Đến khoảng đầu năm 2023 có nhiều người đến đòi nợ anh N. Chị nhận thấy anh N không sửa đổi mà còn gây nợ nên từ tháng 02/2023 chị đã đem theo con về nhà cha mẹ ruột ở T, Long An sinh sống. Từ ngày sống ly thân anh N không một lần đến thăm vợ, con và cũng không phụ cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể nào hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị xin ly hôn với anh N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Bảo H, sinh ngày 18/3/2018 hiện đang sống với chị. Ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản - nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Hồ Bảo N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến phản bác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Âu Thị Thúy A. Cho chị Âu Thị Thúy A được ly hôn với anh Hồ Bảo N.
  • - Về con: Giao con chung tên Hồ Bảo H, sinh ngày 18/3/2018 cho chị Âu Thị Thúy A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Hồ Bảo N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không có yêu cầu và có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị Âu Thị Thúy A trình bày không có còn anh Hồ Bảo N vắng mặt nên không đặt ra xem xét.
  • - Về án phí: Chị Âu Thị Thúy A phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Âu Thị Thúy A có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, bị đơn anh Hồ Bảo N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Âu Thị Thúy A với anh Hồ Bảo N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 40 vào ngày 10/7/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy quan hệ vợ chồng giữa chị A với anh N đã thật sự đổ vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Bởi lẽ, theo chị A trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn và anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Riêng đối với anh Hồ Bảo N, từ khi được Tòa án thông báo về việc chị A yêu cầu ly hôn, anh vẫn bỏ mặc không có ý kiến gì, chứng tỏ anh không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng với chị A nữa. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị A với anh N thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị A được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Chị Âu Thị Thúy A trình bày quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Hồ Bảo H, sinh ngày 18/3/2018, hiện đang sống với chị A. Ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi chị A và anh N sống ly thân thì con chung do chị A trực tiếp nuôi dưỡng, có cuộc sống ổn định, sức khỏe tốt. Do vậy, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất, sự phát triển về tinh thần, cũng như các quyền lợi khác của con chung nên tiếp tục giao con chung cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng: Anh Hồ Bảo N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Âu Thị Thúy A không yêu cầu.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Âu Thị Thúy A trình bày không có còn anh Hồ Bảo N vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Chị Âu Thị Thúy A phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của đại viện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Âu Thị Thúy A. Cho chị Âu Thị Thúy A được ly hôn với anh Hồ Bảo N.
  2. Về con: Giao con chung tên Hồ Bảo H, sinh ngày 18/3/2018 cho chị Âu Thị Thúy A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Hồ Bảo N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
  3. Về án phí: Chị Âu Thị Thúy A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004612 ngày 19/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên xem như đã thi hành xong.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSNDTXCai Lậy;
  • - CCTHADSTXCai Lậy;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Dương Thị Hằng Ni

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Âu Thị Thúy A tranh chấp ly hôn và nuôi con với anh Hồ Bảo N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger