|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24/01/2025
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Kha
Ông Nguyễn Văn Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24/01/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 280/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 234/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/12/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh Q tại Việt Nam: thôn T, xã T, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang.
Anh Q hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Nguyễn Thị Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và và anh Nguyễn Văn Q gặp và quen nhau khi lao động tại Hàn Quốc. Sau khoảng 3 năm tìm hiểu, anh chị đã tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 14/6/2016 tại Đ tại Hàn Quốc. Quá trình chung sống vợ chồng cũng có vài mâu thuẫn nhưng vẫn cố gắng để hòa hợp. Năm 2018 chị sinh cháu Nguyễn Phúc L tại Hàn Quốc, nhưng do không có người thân hỗ trợ và tính chất công việc của anh Q thường xuyên phải di chuyển, không cố định một nơi nên năm 2019 anh chị quyết định cho con về Việt Nam, còn vợ chồng chị ở lại Hàn Quốc làm việc. Đến tháng 8/2023, cháu L chuẩn bị vào lớp 1 nên anh chị quyết định để chị về Việt Nam nuôi dạy con, còn anh Q ở lại Hàn Quốc làm việc. Sau khi chị về Việt Nam sinh sống, giữa chị và anh Q đã xảy ra mâu thuẫn nhiều hơn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống. Đến nay mâu thuẫn giữa anh chị đã quá trầm trọng, ai có cuộc sống riêng của người đó và không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Văn Q được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 10/7/2018. Hiện nay các cháu L đang ở cùng chị nên đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Phúc L cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con vợ chồng sẽ tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Hiện chị đang làm việc tại KCN Y, tỉnh Bắc Ninh, có thu nhập ổn định khoảng 15.000.000 đồng/tháng nên có đủ khả năng để nuôi con.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn Q hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh Q đến nay không nhận được thông tin của anh Q.
Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của anh Q là bà Đặng Thị O, sinh năm 1966; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang, bà có ý kiến trình bày như sau: bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Q, anh Q hiện đang làm việc tại nước ngoài. Gia đình vẫn thường xuyên liên hệ với anh Q qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh Q ở nước ngoài. Bà đã thông báo cho anh Q về việc chị Y đề nghị ly hôn nhưng anh Q không trao đổi gì. Do anh Q đang ở nước ngoài nên không về làm việc với Tòa án được nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh Q.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Y xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Q vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc L cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Y có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Nguyễn Văn Q. Bị đơn anh Nguyễn Văn Q có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 28278/QLXNC ngày 28/11/2024 của Cục Q1 - Bộ C thì anh Nguyễn Văn Q đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 10/11/2008, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Đặng Thị O là mẹ đẻ của anh Q xác định hiện anh Q đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh Q ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Q theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Văn Q kết hôn với nhau ngày 14/6/2016 tại Đ tại Hàn Quốc, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh Q. Xem xét đơn khởi kiện của chị Y, HĐXX thấy: Đến nay chị Y và anh Q đã mâu thuẫn, không còn quan tâm gì nhau. Anh Q hiện đang ở nước ngoài, vợ chồng xa cách, chị Y xác định không còn tình cảm và vợ chồng đã ly thân. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y, xử cho chị Y được ly hôn với anh Q.
[4]. Về con chung: Chị Y và anh Q có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 10/7/2018 hiện nay đang ở cùng chị Y. Anh Q hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có địa chỉ nên không đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Y được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu L. Về cấp dưỡng nuôi con chị Y không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị Y không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 10/7/2018 cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000145 ngày 25/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo:
- - Anh Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Chị Nguyễn Thị Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yến ly hôn Quang
