Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HSST-CTN

Ngày 23/07/2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Hoàng – Nguyên hiệu trưởng Trường đoàn tỉnh Gia Lai- Kon Tum.
  2. Ông Trần Minh Đức - Nguyên Hiệu trưởng Trường PTCS xã Diên Phú, TP. Pleiku, Gia Lai.
  3. Ông Nguyễn Đăng Hòa – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS-CTN ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST– HS-CTN ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Ngô Anh V, Sinh ngày 27 tháng 6 năm 2006, tại: Đ (Tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 năm 6 tháng 18 ngày tuổi); Nơi thường trú: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Bán cá viên chiên trong đoàn lô tô H3; Con ông Ngô Hoàng A, sinh năm 1976 và con bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 14-01-2024 bị cáo ra đầu thú và bị bắt tạm giữ từ ngày 15-01-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)

2. Trương Văn T; Sinh ngày 21 tháng 7 năm 2002, tại: Đ; Nơi thường trú: Tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Phụ trách gian hàng ném lon trong đoàn lô tô H3; Con ông Trương Văn V1, sinh năm 1978 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 14-01-2024 bị cáo ra đầu thú và bị bắt tạm giữ từ ngày 15-01-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)

3. Trần Như P; Sinh ngày 12 tháng 12 năm 2005, tại: Đ; Nơi thường trú: Tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Nhân viên trong đoàn lô tô H3; Con ông Trần Như P1, sinh năm 1966 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 14-01-2024 bị cáo ra đầu thú và bị bắt tạm giữ từ ngày 15-01-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)

-Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Ngô Anh V: Ông Ngô Hoàng A và bà Lê Thị Bích H; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk (cha, mẹ bị cáo). (Bà H có mặt).

-Người bào chữa cho bị cáo Trương Văn T, Trần Như P, Ngô Anh V: Ông Huỳnh Văn K là Luật sư thuộc Văn phòng L1 thuộc đoàn luật sư tỉnh G. (Có mặt)

-Bị hại Mai Tinh K1; Sinh ngày 02 tháng 7 năm 2008 tại: Gia Lai; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

-Người đại diện hợp pháp của bị hại Mai Tinh K1: Ông Mai Văn T1 (cha) và bà Nguyễn Thị H1 (mẹ); Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Bà H1 có mặt)

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Lương Ngọc P2 là Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. (Có mặt)

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Ngô Hoàng A và bà Lê Thị Bích H; địa chỉ: 1 V, TDP G, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk (cha, mẹ bị cáo Ngô Anh V). (Bà H có mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị L và ông Trương Văn V1 ; địa chỉ: Hẻm E V, TDP H, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk (cha, mẹ bị cáo Trương Văn T). (Bà L có mặt)
  • + Bà Nguyễn Thị M và ông Trần Như P1; địa chỉ: 6 N, TDP D, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk (cha, mẹ bị cáo Trần Như P). (Bà M có mặt)
  • + Anh Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 05/6/2008; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

-Người làm chứng:

  • + Anh Phạm Quốc N, sinh ngày 26/3/2008; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Văng mặt)
  • + Anh Hồ Minh K2, sinh ngày 26/01/2009; địa chỉ: H, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)

-Người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 420 Bộ luật tố tụng hình sự: Bà Trần Thị Thu H2; chức vụ: Phó Ban T4. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Anh V, Trương Văn T, Trần Như P là nhân viên đoàn lô tô H3, hoạt động tại thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vào ngày 14/01/2024, Ngô Anh V thấy Nguyễn Thanh T2 (Sinh năm: 2008; trú tại: thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai) cùng một số thanh niên đến đoàn lô tô chơi. Tại đây, V thấy T2 “nhìn đểu” V nên xảy ra mâu thuẫn với T2.

Khoảng 21 giờ 30 cùng ngày, Ngô Anh V, Trương Văn T, Trần Như P nghỉ làm tại đoàn lô tô sau đó cùng nhau đến ăn mì cay tại quán ăn V2 tại thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai thì gặp nhóm của Nguyễn Thanh T2 cũng đang ăn tối tại đây. Nhóm của V nghe T2 nói với nhóm của T2 là “Đi kiếm tụi nó để đánh” thì V nói với P và T là “Đi về lấy dao đi đánh tụi nó” thì P và T cùng đồng ý. P điều khiển xe mô tô BKS: 98L5-6064 chở V, T về đoàn lô tô. Về tới nơi, V đi vào quầy bán cá viên chiên do V quản lý lấy 01 con dao (dao bằng kim loại, màu bạc, dài 22,5cm; trong đó phần cán dài 11cm, lưỡi nhọn dài 11,5cm) là dao V sử dụng hằng ngày để cắt cá viên rồi cùng T lên xe. P điều khiển xe chở V, T quay lại trước quán V2. Đến nơi, P dừng xe trước quán rồi ngồi trên xe mô tô cùng với T chờ, Vũ nhảy xuống xe trước, thấy Nguyễn Thanh T2 đang đứng cùng M1 Tinh Khôi và một số thanh niên khác trước quán. Lúc này, V rút con dao trong túi quần ra, cầm dao bằng tay phải kẹp giấu vào tay áo rồi đi vòng ra phía sau K1 đi thẳng đến vị trí T2 đứng rồi cầm dao đâm hụt T2 một cái. Thấy V cầm dao xông tới thì T2 quay lưng bỏ chạy thì bị V với tay đâm trúng vùng hông lưng bên phải 01 nhát thì T2 bỏ chạy. Tiếp đó, V nhìn thấy M1 Tinh Khôi đang đứng gần ngay sau lưng thì quay lại cầm dao đâm 01 nhát trúng vào đùi phải K1. K1 quay lưng định bỏ chạy thì V cầm dao đâm xốc vào vùng hông lưng bên phải thấu bụng Mai Tinh K1. V đi xung quanh để tìm Nguyễn Thanh T2 thì cùng lúc đó, T xuống xe xông đến, dùng chân đạp 01 cái vào bụng của K1. Thấy K1 ôm bụng và nhóm của T2 bỏ chạy, V và T cùng bỏ chạy ra xe P đang chờ sẵn. P chở V, T bỏ chạy về hướng đoàn lô tô. Trên xe, V nói: “Em đâm được nửa dao rồi, về gom đồ về Đắk Lắk trốn”. Đi được khoảng hơn 60 m thì V vứt con dao vào bãi cỏ ở cạnh rìa đường Quốc lộ 19 rồi định đi về đoàn lô tô lấy quần áo bắt xe bỏ trốn về tỉnh Đắk Lắk. Nhận thấy hành vi không thể che giấu, V, T, P đi tìm lại con dao đã đâm K1 và T2 rồi cùng nhau đến Công an xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi của mình đồng thời giao nộp 01 xe môtô BKS: 98L5-6064, nhãn hiệu: HAMCO, màu xanh; 01 con dao bằng kim loại màu bạc dài 22,5cm, phần cán bằng kim loại dài 11cm, lưỡi dao nhọn dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 0,2cm.

Ngày 20/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M Quyết định trưng cầu giám định số 132/QĐ-ĐTTH cầu Trung tâm pháp y tỉnh G định tỉ lệ tổn hại sức khỏe của Nguyễn Thanh T2. Qua giám định, tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 74/KLTTCT-TTPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh G kết luận tổn hại sức khỏe của Nguyễn Thanh T2 như sau:

“1. Các kết quả chính:

  • - 01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên vùng hông lưng phải cách D12-L1 8cm về phía bên phải.
  • - Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh T2 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm);

2. Kết luận khác:

  • - Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp;
  • - Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén, mũi nhọn. Do vậy, 01 (một) con dao được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M trưng cầu là vật phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên.”

Ngày 26/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M Quyết định trưng cầu giám định số 145/QĐ-ĐTTH cầu Trung tâm pháp y tỉnh G định tỉ lệ tổn hại sức khỏe của Mai Tinh K1. Qua giám định, tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 127/KLTTCT-TTPY ngày 20/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh G kết luận tổn hại sức khỏe của Mai Tinh K1 như sau:

“1. Các kết quả chính:

  • - 01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên vùng hông phải.
  • - 01 sẹo mổ dọc theo đường trắng giưa bụng từ bờ dưới hỏm ức kéo dài qua rốn, cách hạ vị 4,5cm, cách rốn 5cm về phía dưới.
  • - 01 sẹo mổ dẫn lưu hố chậu phải.
  • - 01 sẹo mổ dẫn lưu hố chậu trái.
  • - 01 sẹo vết thương phần mềm mặt sau ngoài đùi phải.
  • - Vết thương thấu bụng gây tổn thương gan hạ phân thùy VI, điều trị bảo tồn.
  • - Vết thương thấu bụng gây vết thương cực trên thận phải, đã khâu.
  • - Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mai Tinh K1 tại thời điểm giám định là: 27% (Hai mươi bảy phần trăm);

2. Kết luận khác:

  • - Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp;
  • - Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén, mũi nhọn. Do vậy, 01 (một) con dao được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M trưng cầu là vật phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên.”

Ngày 16/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G có Công văn số 656/CV-CSĐT-Đ3 gửi Trung tâm pháp y tỉnh G đề nghị giải thích: Tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể đối với từng vết thương đã nêu trong Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 127/KLTTCT-TTPY ngày 20/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh G về tỉ lệ tổn hại sức khỏe của Mai Tinh K1.

Ngày 22/4/2024, Trung tâm pháp y tỉnh G có Công văn số 22/CV-TTPY xác định:

  • “- 01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên vùng hông phải: 1%
  • - 01 sẹo mổ dọc theo đường trắng giưa bụng từ bờ dưới hỏm ức kéo dài qua rốn, cách hạ vị 4,5cm, cách rốn 5cm về phía dưới: 2%
  • - 01 sẹo mổ dẫn lưu hố chậu phải: 1%
  • - 01 sẹo mổ dẫn lưu hố chậu trái: 1%
  • - 01 sẹo vết thương phần mềm mặt sau ngoài đùi phải: 1%
  • - Vết thương thấu bụng gây tổn thương gan hạ phân thùy VI, điều trị bảo tồn: 7%
  • - Vết thương thấu bụng gây vết thương cực trên thận phải, đã khâu: 17%.”

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Mai Tinh K1 tại thời điểm giám định là: 27% (Hai mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.”

Ngày 23/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định số 140/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K3 Công an tỉnh G giám định dấu vết sinh học trên vật chứng là 01 con dao bằng kim loại màu bạc dài 22,5cm, phần cán bằng kim loại dài 11cm, lưỡi dao nhọn dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 0,2cm đã thu giữ? Nếu có thuộc nhóm máu nào? Qua giám định, tại Bản Kết luận giám định số: 273/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh G kết luận: “Trên con dao bằng kim loại, màu bạc, dài 22,5cm trong đó phần cán dài 11cm, lưỡi nhọn dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 02 cm gửi giám định có máu người, do lượng máu ít nên không xác định được nhóm máu hệ ABO.”

Đối với xe môtô BKS: 98L5-6064, nhãn hiệu: HAMCO, màu xanh đã thu giữ, qua điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Lê Văn T3 (Sinh ngày 20/10/1976, trú tại Ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre). Ngày 14/01/2024, Trần Như P mượn xe mô tô trên để sử dụng chở V và T đi đánh nhau thì anh T3 không biết. Ngày 16/4/2024, anh T3 làm Đơn xin từ chối nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì về dân sự và giao nộp 01 giấy đăng ký mô tô xe máy số 036201 tên Nguyễn Văn B do Công an tỉnh B cấp ngày 18/7/2012.

* Về dân sự:

Bà Nguyễn Thị M (mẹ ruột của bị can Trần Như P) đã bồi thường cho M1 Tinh Khôi số tiền 3.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột của bị can Trương Văn T) đã bồi thường cho M1 Tinh Khôi số tiền 15.000.000 đồng. Bà Lê Thị Bích H (mẹ ruột của bị can Ngô Anh V) đã bồi thường cho M1 Tinh Khôi số tiền 5.000.000 đồng. Hiện tại, Mai Tinh K1 và gia đình không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

2. Diễn biến tại phiên tòa:

2.1. Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung Cáo trạng số: 99/CT-VKS-P2 ngày 13 tháng 6 năm 2024, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Ngô Anh V, Trương Văn T và Trần Như P phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

2.1.1 Về hình phạt:

  • + Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Văn T, Trần Như P.
  • + Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 3 Điều 102 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Anh V.

Đề nghị xử phạt:

  • -Bị cáo Trương Văn T từ 09 đến 10 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-01-2024
  • -Bị cáo Trần Như P từ 09 đến 10 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-01-2024.
  • - Bị cáo Ngô Anh V từ 05 đến 06 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-01-2024.

2.1.2. Về dân sự: Các bị cáo và gia đình các bị cáo thỏa thuận và bồi thường xong, bị hại không tiếp yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

2.1.3. Về xử lý vật chứng:

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng.
  • - Tịch thu sung công quỹ đối với một xe mô tô BKS: 98L5-6064, nhãn hiệu HAMCO, màu xanh và một đăng ký xe máy số 036201 tên Nguyễn Văn B do công an tỉnh B cấp ngày 18-07-2012.

2.1.4. Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

2.2. Người bào chữa cho các bị cáo Trương Văn T, Trần Như P, Ngô Anh V Trình bày: Đồng ý với tội danh, điểm, khoản, điều luật như Cáo trạng số 99/CT-VKS-P2 ngày 13 tháng 6 năm 2024 đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bà nội bị cáo Ngô Anh V được tặng bằng khen, ông ngoại bị cáo Trương Văn T được tặng huy chương chiến sĩ, gia đình bị cáo Trần Như P có hoàn cảnh khó khăn nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự. Bị cáo Ngô Anh V chưa thành niên nhận thức pháp luật hạn chế nên cần áp dụng Điều 91, Điều 101 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; các bị cáo phạm tội chưa đạt nên áp dụng điều 15, 57 Bộ luật hình sự xử các bị cáo thấp hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị.

2.3. Các bị cáo đều nhất trí như quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến gì thêm.

2.4. Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Ngô Anh V trình bày: Đồng ý với quan điểm bào chữa, không có ý kiến gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

2.5. Bị hại Mai Tinh K1 và Người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Thống nhất với tội danh và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

2.6. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là ông Lương Ngọc P2 trình bày: Thống nhất với tội danh và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thống nhất theo mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

2.7. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Đồng ý với quan điểm bào chữa, không có ý kiến gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

2.8. Người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 420 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

2.9. Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan điều tra, truy tố và người tiến hành tố tụng của các cơ quan này đã thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Không phát sinh khiếu nại, tố cáo gì về pháp luật tố tụng.

[2] Xác định tội phạm, tội danh:

Xuất phát từ việc Ngô Anh V cho rằng Nguyễn Thanh T2 nhìn đểu mình ở đoàn lô tô nên khi thấy nhóm của T2 ở quán M2, nghe T2 nói “đi kiếm tụi nó để đánh” thì Ngô Anh V đã rủ Trương Văn T, Trần Như P về lấy dao để đánh nhóm của T2 thì T và P đồng ý. Khi cầm dao quay lại V đã dùng dao đâm 02 nhát vào người của T2 trong đó một nhát đâm hụt, còn một nhát trúng vào vùng hông lưng của T2. Thấy Mai Tinh K1 đứng gần mình V đã đâm 02 nhát vào người của K1 (một nhát vào đùi, một nhát vào bụng). Cùng lúc này, T đang ngồi trên xe đã lao đến đạp một cái vào bụng của K1. Thấy K1 đau đớn ôm bụng thì V, T lên xe của P đang chờ sẵn rồi phóng xe bỏ chạy.

Theo kết luận giám định số:127/KLTTCT-TTPY ngày 20/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G thì tổng tỷ lệ thương tích của K1 là 27%.

Theo kết luận giám định số:74/KLTTCT-TTPY ngày 28/2/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G thì tổng tỷ lệ thương tích của T2 là 2%. T2 có đơn xin bãi nại, không khởi tố đối với hành vi cố ý gây thương tích của V, T, P.

Tại thời điểm các bị cáo phạm tội, bị hại K1 được 15 năm 6 tháng 2 ngày tuổi.

Do vậy, đủ cơ sở để xác định bị cáo Ngô Anh V, Trương Văn T và Trần Như P đã phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” và “giết người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo trong vụ án:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao sắc nhọn đâm vào vùng lưng, bụng là vị trí trọng yếu của cơ thể bị hại có thể gây chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn. Trong đó, Ngô Anh V giữ vai trò là người khởi xướng, V là người chủ động rủ T, P về đoàn lô tô để lấy dao đánh nhau với nhóm của T2 bị cáo cũng là người thực hành tích cực khi dùng dao đâm hai nhát vào đùi, bụng của K1 là nguyên nhân chính dẫn đến thương tích 27% cho bị hại. Bị cáo T là người thực hành tích cực khi thấy K1 gục ngã bị cáo đã dùng chân đạp vào bụng của K1. Bị cáo P là người giúp sức về mặt tinh thần mặc dù không có mâu thuẫn gì với T2, K1 nhưng khi được V rủ đi đánh nhau bị cáo đã tiếp nhận ý chí, tự nguyện tham gia đánh T2. Khi V, T đâm, đá Khôi bị cáo đã dùng xe mô tô chỏ V, T đi đánh T2, khôi và ngồi sẵn trên xe để chở hai bị cáo còn lại bỏ trốn.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có

-Tình tiết giảm nhẹ:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường 23.000.000 đồng cho bị hại để khắc phục hậu quả. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ khác: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, bà nội bị cáo Ngô Anh V được tặng bằng khen, ông ngoại bị cáo Trương Văn T được tặng huy chương chiến sĩ, gia đình bị cáo Trần Như P có hoàn cảnh khó khăn đây là những tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra làm bị hại tổn hại 27% sức khỏe, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Do vậy, các bị cáo được áp dụng quy định tại Điều 15 và Điều 57 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo Ngô Anh V chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

[5]Về hình phạt đối với các bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng:

Đối với Ngô Anh V là người giữ vai trò khởi xướng và thực hành tích cực, hành vi của bị cáo là nguyên nhân chính dẫn đến thương thích của bị hại, bị cáo là người lấy hung khí để đi đánh nhau nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao nhất so với các bị cáo khác.

Đối với bị cáo Trương Văn T là người thực hành tích cực, bị cáo là người đã thành niên nhưng khi V (chưa đủ 18 tuổi) rủ đi đánh nhau bị cáo không can ngăn mà khi thấy K1 ngã xuống bị cáo còn dùng chân đạp K1 nên bị cáo phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo P.

Đối với bị cáo Trần Như P mặc dù không có mâu thuẫn với T2, K1 nhưng khi V rủ đi đánh nhau bị cáo không can ngăn mà tự nguyện cùng đi theo để đánh T2. Bị cáo tuy không phải là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại nhưng lại là người chở V, T đi đánh nhau gây thương tích cho bị hại, cũng như chở V, T bỏ trốn. Vì vậy, bị cáo phải chịu mức án tương xướng với hành vi phạm tội của mình.

[6] Về dân sự: Tại phiên tòa, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.

[7] Về vật chứng:

Các vật chứng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy gồm:

  • -01 con dao bằng kim loại màu bạc dài 22,5cm, phần cán bằng kim loại dài 11cm, lưỡi dao nhọn dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 0,2cm.

Tịch thu sung công quỹ:

  • -01 xe mô tô BKS: 98L5-6064, nhãn hiệu HAMCO, màu xanh;
  • -01 đăng ký xe máy số 036201 tên Nguyễn Văn B do công an tỉnh B cấp ngày 18-07-2012.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với các đối tượng và những vấn đề có liên quan đến vụ án:

Trong vụ án này Ngô Anh V, Trương Văn T, Trần Như P còn có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Thanh T2 bị tổn hại 02% sức khỏe là thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Tuy nhiên, Nguyễn Thanh T2 làm đơn xin bãi nại, không yêu cầu khởi tố đối với hành vi cố ý gây thương tích của V, T nên không có căn cứ để xử lý về mặt hình sự đối với V, T, P về hành vi này. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G có Công văn và chuyển hồ sơ đến Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 7 Mục 1 Chương II Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật áp dụng:

  • - Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Văn T.
  • - Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Như P.
  • - Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 58 Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 3 Điều 102 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Anh V.
  • - Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
  • - Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Anh V, Trương Văn T và Trần Như P phạm tội “Giết người”.

3. Về hình phạt:

3.1. Xử phạt bị cáo Ngô Anh V 05 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-01-2024 .

3.2. Xử phạt bị cáo Trương Văn T 09 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-01-2024 .

3.3. Xử phạt bị cáo Trần Như P 08 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-01-2024 .

3.4. Về xử lý vật chứng:

-Xử tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 con dao bằng kim loại màu bạc dài 22,5cm, phần cán bằng kim loại dài 11cm, lưỡi dao nhọn dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 0,2cm.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

  • + 01 xe mô tô BKS: 98L5-6064, nhãn hiệu HAMCO, màu xanh;
  • + 01 đăng ký xe máy số 036201 tên Nguyễn Văn B do công an tỉnh B cấp ngày 18-07-2012.

(Toàn bộ các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng số 122/2024 ngày 25 tháng 06 năm 2024, giữa: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G và Cục THADS tỉnh G)

5. Về án phí: Xử buộc bị cáo Ngô Anh V, Trương Văn T và Trần Như P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp của bị cáo dưới 18 tuổi, đại diện hợp pháp của bị hại; người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi; người bào chữa cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.

Nếu người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định.


Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
  • - VP CQCSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Cục THADS tỉnh Gia Lai;
  • - Trại tạm giam T20;
  • - Bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Tòa GĐ&NCTN, VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HSST-CTN ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về giết người

  • Số bản án: 29/2024/HSST-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giết người 3 bị cáo ở Đăk Lăk
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger