Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/4/2024

V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Đoàn Hạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Pang Ting Suyl

Ông Nguyễn Thanh Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng B, sinh năm: 1978

Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Nhị N, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng

(Tại phiên tòa, các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Nguyễn Trọng B trình bày: Ông Nguyễn Trọng B và bà Nguyễn Thị Nhị N xây dựng gia đình với nhau năm 2016, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, vợ ông nói nhiều và thường xuyên chửi bới, xúc phạm ông và gia đình, ông đã cố gắng rất nhiều nhưng không thay đổi được vợ ông. Đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng và ông bà đã tự sống ly thân nên ông B yêu cầu được ly hôn.

Vợ chồng ông bà có hai con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 16/11/2016 và Nguyễn Phương N1, sinh ngày 10/12/2021. Khi ly hôn ông B yêu cầu được nuôi con là Nguyễn Trọng P và giao con là Nguyễn Phương N1 cho bà N nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà tự thỏa thuận nên ông Bằng k yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông Bằng k còn yêu cầu gì khác.

2. Quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị Nhị N trình bày: Việc vợ chồng ông bà xây dựng gia đình với nhau như ông B trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm, bà N thừa nhận bà có hay nói nhưng cũng do ông B gia trưởng, hay càm ràm bà trong công việc hàng ngày, bà N bệnh tật nên bà cũng hay cấu bẩm nên vợ chồng mâu thuẫn. Vì vậy, vợ chồng ông bà đã sống ly thân mấy tháng nay, bà N đang bệnh tật nên bà không muốn ly hôn, bà muốn vợ chồng đoàn tụ để lo cho con nên bà N không đồng ý ly hôn.

Vợ chồng ông bà có hai con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 16/11/2016 và Nguyễn Phương N1, sinh ngày 10/12/2021. Hiện nay bà N đang bệnh tật, bà không làm gì ra tiền nên bà không đồng ý ly hôn. Nhưng nếu trong trường hợp xấu nhất vợ chồng phải giải quyết ly hôn thì bà yêu cầu được nuôi hai con chung và yêu cầu ông Bằng cấp d nuôi con theo quy định.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà tự thỏa thuận nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra bà N không còn yêu cầu gì khác.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau. Vì vậy, Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, ông B vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bà N, yêu cầu được nuôi con là Nguyễn Trọng P và giao con là Nguyễn Phương N1 cho bà N nuôi dưỡng, ông B sẽ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Phương N1 1.000.000đồng/01 tháng. Nhưng nếu bà N không có khả năng nuôi con thì ông B nhận nuôi cả hai con chung, không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con. Bà N không đồng ý ly hôn nhưng nếu ông B cương quyết yêu cầu ly hôn thì bà N giao cả hai con chung cho ông B nuôi dưỡng, bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Trọng B. Xử cho ông Nguyễn Trọng B và bà Nguyễn Thị Nhị N được ly hôn; Về con chung: Giao con là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 16/11/2016 và Nguyễn Phương N1, sinh ngày 10/12/2021 cho ông B có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà N không ai phải cấp dưỡng nuôi con ; Các vấn đề khác không đặt ra để xem xét giải quyết. Buộc ông B phải chịu án phí về việc ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Trọng B và bà Nguyễn Thị Nhị N xây dựng gia đình với nhau năm 2016, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên ông B yêu cầu được ly hôn nhưng bà N không đồng ý ly hôn.

Xét thấy, tại phiên tòa ông B và bà N đều thừa nhận vợ chồng ông bà có mâu thuẫn hai năm nay, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, ông B gia trưởng còn bà N nói nhiều nên khi xung đột vợ chồng có xúc phạm lẫn nhau, do mâu thuẫn nặng nề nên ông bà đã tự sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không có biện pháp gì để giải quyết mâu thuẫn mà hai bên không nói chuyện, không liên lạc với nhau. Qua xác minh thực tế tại địa phương thì được biết quá trình chung sống ông B và bà N phát sinh mâu thuẫn thì địa phương đã động viên, hòa giải nhưng hai bên không cải thiện được quan hệ tình cảm mà thường xuyên xung đột, ông bà đã ly thân và tự chia tài sản để lo cho các con. Đến nay ông B xác định không thể hòa giải nên ông B cương quyết yêu cầu ly hôn. Vì vậy, nếu kéo dài mối quan hệ như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của ông B, xử cho ông B và bà N được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

[2] Về con chung: Ông Nguyễn Trọng B và bà Nguyễn Thị Nhị N có hai con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 16/11/2016 và Nguyễn Phương N1, sinh ngày 10/12/2021. Tại phiên tòa, ông B yêu cầu được nuôi con là Nguyễn Trọng P và giao con là Nguyễn Phương N1 cho bà N nuôi dưỡng, ông B sẽ cấp dưỡng phụ bà N nuôi con là 1.000.000đồng/tháng. Tuy nhiên, bà N xác định hiện nay bà đang bệnh tật nên không đủ điều kiện lo cho các con nên bà N giao cả hai con cho ông B nuôi dưỡng để bà N chữa bệnh, nếu sau này ổn định cuộc sống thì bà N thay đổi sau.

Xét thấy, cháu Nguyễn Trọng P, sinh ngày 16/11/2016 hiện nay đã trên 07 tuổi trình bày nguyện vọng được sống với mẹ, còn cháu N1 là còn gái hiện nay chưa được 03 tuổi nên cần sự quan tâm, gần gũi, chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Tuy nhiên, bà N khẳng định hiện nay bà không có việc làm, không có nhà cửa và bản thân bà N cần phải chữa bệnh nên các con ở với bà N sẽ không đảm bảo, còn điều kiện nuôi con của ông B tốt hơn, ổn định hơn, ông B có gia đình phụ giúp nên tại phiên tòa ông B và bà N thống nhất thỏa thuận giao cả hai con chung cho ông B chăm sóc, nuôi dưỡng. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của ông B, bà N và để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của các con khi bố mẹ ly hôn nên cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận nuôi con của ông B và bà N là phù hợp.

[3] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Bằng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Ông Nguyễn Trọng B và bà Nguyễn Thị Nhị N xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu sau này hai bên không tự giải quyết được với nhau thì các bên khởi kiện sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[5] Về nợ chung: Ông Nguyễn Trọng B và bà Nguyễn Thị Nhị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

[6] Về án phí: Buộc ông Nguyễn Trọng B phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Trọng B, xử cho ông Nguyễn Trọng B và bà Nguyễn Thị Nhị N được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cả hai con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 16/11/2016 và Nguyễn Phương N1, sinh ngày 10/12/2021 cho ông Nguyễn Trọng B có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nguyễn Thị Nhị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Trọng B phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Trọng B đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0004482 ngày 29/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Ông Nguyễn Trọng B đã nộp đủ án phí.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/4/2024) các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV - HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Đoàn Hạnh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa anh B và chi N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger