TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 22/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Long và ông Nguyễn Ngọc Chẩn.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa:
Ông Phan Quốc Trung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn S
– sinh ngày 20/3/1992 tại H, Bình Thuận; Nơi thường trú: L, Hồ N, H, Bình Thuận; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: thợ sửa điện; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (chết), bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1953; A, chị ruột: 05 người; Vợ: Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1995; Con ruột: Lê Kiều L – sinh năm 2023.
Tiền án: Ngày 01/3/2016 bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Hiếp dâm và Cướp tài sản, ngày 13/5/2021 chấp hành xong án phạt tù. Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S, có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Bà Lê Thị H1 – sinh năm 1964, địa chỉ: H, X, Sông C, Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1999, địa chỉ: T, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Hồ Thị Lệ T2 - sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn E, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
- Ông Nguyễn Văn T3 – sinh năm 1960, địa chỉ: L, C, C, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên toà.
mặt tại phiên toà.
4/ Chị Nguyễn Thị X – sinh năm 1991, địa chỉ: T, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 7/2023, Lê Văn S đến ở nhà cha mẹ vợ S (là chị Nguyễn Thị Đ) tại thôn T, xã X, thị xã S để chăm sóc vợ vừa sinh con. Chiều ngày 10/7/2023 S đến nhà cậu vợ chơi và uống rượu, đến khoảng 19 giờ ngày 10/7/2023, S đến nhà em vợ là Nguyễn Văn T1 để mượn xe mô tô 79Z1-0204 của T1 đi mua đồ ăn tối cho vợ, trên đường đi mua đồ ăn cho vợ thì S nhìn thấy bà Lê Thị H1 đang một mình điều khiển xe mô tô trên quốc lộ A lưu hành theo hướng Bắc-Nam, khu vực này đoạn đường vắng vẻ, không có điện đường, nên S nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà H1. Vì vậy, S đã điều khiển xe mô tô 79Z1-0204 bám theo xe bà H1, được một đoạn thì S điều khiển xe vượt lên ép sát xe mô tô bà H1 điều khiển, gây ra va chạm làm xe bà H1 điều khiển chạy loạng choạng một đoạn rồi ngã xuống đường Q thuộc thôn E, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Lúc này, S dừng xe lại cách vị trí bà H1 té ngã khoảng 03m, rồi đi bộ đến giả vờ hỏi bà H1 “sao dãy, sao dãy”, đồng thời S dùng tay đỡ bà H1 ngồi dậy thì thấy trên cổ bà H1 có đeo sợi dây chuyền vàng nên S đã dùng tay giật lấy sợi dây chuyền vàng ra khỏi cổ từ phía sau. S cầm lấy sợi dây chuyền và đi về hướng xe mô tô của mình nhằm tẩu thoát, đi được vài bước thì S quay đầu lại giả vờ hỏi “có sao không”, khi đó bà H1 vì quá hoảng sợ và biết một mình không thể chống cự lại Sang nên đã trả lời là “không sao, không sao” rồi S điều khiển xe mô tô tẩu thoát.
Đến sáng ngày 11/7/2023, S chở Nguyễn Thị X (là em dâu của S) đi khám thai tại trung tâm thị xã S, trên đường đi về đến xã X thì S nhờ X bán sợi dây chuyền, khi đó S chở X đến hiệu vàng Kim Thông 3 tại thôn E, xã X, thị xã S. Đến nơi S đưa sợi dây chuyền cho X trực tiếp mang vào tiệm bán với giá 5.320.000đ, còn S ngồi trên xe mô tô chờ bên ngoài. Sau khi bán sợi dây chuyền, X cầm tiền đưa cho S cất giữ. Xuyên không biết sợi dây chuyền vàng do S chiếm đoạt của người khác. Đến ngày 20/7/2023 thì S bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã S phát hiện, bắt tạm giam và thu giữ số tiền 5.320.000₫.
Tại bản kết luận định giá số 39/KL-HĐĐG ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Tại thời điểm ngày 10/7/2023, một sợi dây chuyền vàng loại 18K, trọng lượng 1,7 chỉ; kiểu loại mắc xích nối với nhau bằng thanh ngang trị giá 5.600.000đ.
Quá trình điều tra S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. S có cha được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, mẹ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba.
Phần dân sự: Bị hại yêu cầu S bồi thường giá trị sợi dây chuyền vàng bị chiếm đoạt là 5.600.000đ.
Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô, 01 mũ bảo hiểm, số tiền 5.320.000₫, 01 đĩa DVD lưu trữ 03 đoạn video.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSSC ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố Lê Văn S tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và khẳng định Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Cướp tài sản là đúng tội, không oan. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 5.600.000đ, về hình phạt bị hại đề nghị Toà án xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và đề nghị:
- - Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Cướp tài sản”; áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn S từ 08 đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 280.000đ.
- - Về vật chứng vụ án: Trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 01 (một) xe mô tô biển số 79Z1-0204 và 01 (một) mũ bảo hiểm. Trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 5.320.000đ. Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
- - Đối với Nguyễn Thị X bán giúp S sợi dây chuyền, nhưng X không biết dây chuyền này là do S phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
- - Đối với Hồ Thị Lệ T2 (là chủ tiệm V) có mua sợi dây chuyền, nhưng chị T2 không biết tài sản do S phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
- - Đối với thương tích xây xát nhẹ của Lê Thị H1 do Lê Văn S gây ra, quá trình điều tra Lê Thị H1 đã tự nguyện từ chối giám định và không yêu cầu Lê Văn S bồi thường nên không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tuy nhiên việc vắng mặt họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ
án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ ngày 10/7/2023, khi đang đi mua đồ ăn tối cho vợ thì Lê Văn S thấy bà Lê Thị H1 một mình điều khiển xe mô tô trên đoạn đường vắng, trời tối, không có điện chiếu sáng, nên S đã điều khiển xe mô tô bám theo một đoạn, rồi vượt lên ép sát xe mô tô bà Lê Thị H1, gây ra va chạm làm xe bà Lê Thị H1 ngã xuống đường, khiến cho bà Lê Thị H1 hoảng sợ, lâm vào tình trạng không thể chống cự được, rồi Lê Văn S chiếm đoạt sợi dây chuyền vàng trị giá 5.600.000đ của bà Lê Thị H1. Như vậy, hành vi của Lê Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”.
Xét, bị cáo sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ chạy bám theo, vượt lên, ép sát xe mô tô của bị hại gây ra va chạm làm bị hại ngã xuống đường rồi chiếm đoạt tài sản, hành vi này có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác; mặc dù bị hại không yêu cầu giám định thương tích nhưng thực tế có gây ra thương tích cho bị hại; bị cáo đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng là Hiếp dâm và Cướp tài sản, chưa được xóa án tích nên lần này hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp sử dụng thủ đoạn nguy hiểm và tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
[3.2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tài sản và sức khoẻ của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, hành vi của bị cáo không chỉ ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi bị cáo phạm tội, mà còn gây tâm lý bất an cho quần chúng nhân dân. Lợi dụng đêm tối, vắng người, bị hại đang điều khiển xe một mình, bị cáo sử dụng xe mô tô để bám theo và tấn công bị hại cho thấy sự liều lĩnh, manh động và bất chấp pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có tiền án về tội Hiếp dâm và Cướp tài sản, chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục thực hiện tội phạm. Lần này bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung là sử dụng thủ đoạn nguy hiểm và tái phạm nguy hiểm. Đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Thị H1. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, mẹ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
Từ những phân tích trên, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ chấp nhận.
[3.4] Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự thì bị cáo phải bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, do đó, bị hại Lê Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại sợi dây chuyền vàng bị chiếm đoạt 5.600.000₫ là có căn cứ chấp nhận. Quá trình điều tra đã thu giữ 5.320.000₫ là tiền bị cáo có được từ việc bán sợi dây chuyền của bà H1 nên trả cho bà Lê Thị H1. Vì vậy, chỉ buộc bị cáo phải bồi thường cho bà H1 số tiền 280.000₫.
[3.5] Về vật chứng vụ án: Trả lại xe mô tô biển số 79Z1-0204 và mũ bảo hiểm cho anh Nguyễn Văn T1 vì anh T1 không có lỗi trong việc để S sử dụng vào việc thực hiện tội phạm. Số tiền 5.320.000₫ là tiền bị cáo có được từ việc bán sợi dây chuyền của bà H1 nên trả cho bà H1. Cần tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ 03 đoạn video thu thập từ camera tại tiệm V.
[3.6] Đối với Nguyễn Thị X bán giúp S sợi dây chuyền, nhưng X không biết dây chuyền này là do S phạm tội mà có nên không xem xét xử lý. Đối với Hồ Thị Lệ T2 có mua sợi dây chuyền, nhưng chị T2 không biết dây chuyền do S phạm tội mà có nên không xem xét xử lý. Đối với thương tích của Lê Thị H1 do Lê Văn S gây ra, quá trình điều tra Lê Thị H1 đã tự nguyện từ chối giám định và không yêu cầu Lê Văn S bồi thường nên không xem xét.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 38, Điều 46, Điều 47, Điều 48, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, 135, 136, 292, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.
Về dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn S bồi thường cho bị hại Lê Thị H1 số tiền 280.000đ (hai trăm tám mươi nghìn đồng).
Vật chứng vụ án:
Trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 01 (một) xe mô tô biển số 79Z1-0204, màu đỏ-đen, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, số máy 5C63055023, số khung 408Y055023 và 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh; Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
Trả cho bà Lê Thị H1 số tiền 5.320.000đ (năm triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng), theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/3/2024 người nộp là Nguyễn Văn X1 Công an thị xã S nộp vào tài khoản số 3949.0.1076679 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu tại Kho bạc Nhà nước S1.
Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ 03 (ba) đoạn video thu thập từ camera tại tiệm V.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Triều |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về cướp tài sản
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù
