Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN NAM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-7-2024
V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Não Thiên Minh Trí và ông Phú Trần Anh Vương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Xuân Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị N, sinh năm: 2001 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1997 (vắng mặt).
Đại chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị N trình bày: Chị với anh Nguyễn Văn P tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã P (viết tắt UBND), huyện T theo giấy chứng nhận kết hôn số 110/2019 ngày 20/12/2019. Sau khi kết hôn chị và anh P sống tại nhà chị ở thôn L, xã P. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, anh P đã bỏ đi làm ăn xa gần hai năm nay không liên lạc về và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh P, vợ chồng đã không còn sống chung từ nhiều tháng nay, không ai quan tâm tới ai, vì vậy chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn P.

- Về con chung: Chị với anh Nguyễn Văn P có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Đại P1, sinh năm 2020, hiện con đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn: Anh Nguyễn Văn P trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ nhưng anh Nguyễn Văn P không đến Toà án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị N, chị N được ly hôn anh P.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Huỳnh Thị N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Huỳnh Thị N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Văn P; anh Nguyễn Văn P có nơi cư trú tại thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.

[2]. Về việc vắng mặt của các đương sự:

- Nguyên đơn chị Huỳnh Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh P.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị N và anh Nguyễn Văn P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 110/2019, ngày 20/12/2019. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị N và anh Nguyễn Văn P là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

[3.2]. Về tình trạng hôn nhân: Chị Huỳnh Thị N và anh Nguyễn Văn P chung sống hạnh phúc đến năm 2023 xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, chị và anh P đã không còn sống chung gần hai năm nay, không còn ai quan tâm đến ai, mảnh ai nấy sống, anh P đã bỏ đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục niêm yết theo quy định nhưng anh P không đến Toà, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng của anh P. Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương xác định chị Huỳnh Thị N và anh Nguyễn Văn P đã không còn sống sống với nhau từ nhiều tháng nay và hiện nay anh P không có mặt tại địa phương. Từ đó Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị N và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.

[3.3]. Về con chung: Chị Huỳnh Thị N và anh Nguyễn Văn P có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Đại P1, sinh ngày 31/3/2020, hiện con đang sống cùng với chị N. Xét thấy, từ ngày chị N và anh P không còn sống chung với nhau thì chị P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và con vẫn phát triển bình thường, vì vậy chị N có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

[3.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Thị N tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Văn P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị N, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Huỳnh Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn P
  2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Đại P1, sinh ngày 31/3/2020 cho chị Huỳnh Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí: Chị Huỳnh Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị N đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Toà án số 0002317 ngày 25/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Nam;
  • - UBND xã Phước Diêm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Dương Khánh Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án về tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger