|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 22 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Việt Giang.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chí Hùng.
- 2. Ông Phạm Hoàng Tuấn.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Xuân N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01 tháng 01 năm 1972; Nơi thường trú và nơi ở: Khu I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số CCCD: [...]; nơi cấp: Cục C về TTXH; Bố đẻ: Trần Xuân Đ, đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, đã chết; A, chị em ruột: Có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Không.
Tiền án: có 03 tiền án.
- + Tại Bản án số 108 ngày 29/9/1997, TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt 16 năm tù về các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Cướp tài sản của công dân.
- + Tại Bản án số 30 ngày 11/3/1998, TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 108 ngày 29/9/1997 buộc N phải chấp hành hình phạt chung là 20 năm tù. N đã chấp hành xong ngày 18/9/2013.
- + Tại Bản án số 24/2015/HSST ngày 29/6/2015, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Nam chấp hành xong ngày 07/02/2023; Bản án xác định thời điểm phạm tội, N chưa được xóa án tích và áp dụng tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”. Bị can chấp hành xong án phí ngày 21/8/2015; chấp hành xong tịch thu xung quỹ nhà nước vào ngày 19/8/2015; ra trại vào ngày 07/02/2023. Thời điểm phạm tội ngày 28/12/2023, bị cáo N chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Tại Bản án số 47 ngày 31/8/1993, TAND huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân (Bản án không thể hiện trị giá xe máy trộm cắp) và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân (trị giá tài sản phạm tội là 130.000 đồng). Chấp hành xong nghĩa vụ dân sự (án phí) ngày 14/12/1994, không xác minh được nơi chấp hành án và ngày chấp hành xong hình phạt.
- - Tại Bản án số 44 ngày 24/8/1995, TAND huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Xác minh tại Tòa án nhân dân, Chi cục THADS thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc và huyện M, thành phố Hà Nội; Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh (theo Bản án số 24 ngày 29/6/2015); Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ; Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh P (theo các Bản án số 108 ngày 29/9/1997 và số 30 ngày 11/3/1998) không thu thập được Bản án này, không thu thập được dữ liệu về chấp hành hình phạt và các nghĩa vụ khác trong Bản án.
- - Tại Bản án số 57/2023/HSST ngày 26/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 42 tháng tù về tội Đánh bạc (Đến nay Bản án đã có hiệu lực pháp luật).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023, hiện bị đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Bị cáo có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 10 phút ngày 28/12/2023, tại khu vực gầm cầu vượt đường C - Lào Cai thuộc khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an huyện P tuần tra phát hiện một nam thanh niên đứng ven đường có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật về ma túy. Tổ công tác tiếp cận và yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai nhận là Trần Xuân N, sinh năm 1972, nơi thường trú: Khu I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; N khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã mời người chứng kiến để tiến hành kiểm tra, lập biên bản sự việc và thu giữ các đồ vật, tài liệu sau:
- + 01 gói nilon màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột cục màu trắng và 01 (một) gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, bên trong gói giấy chứa chất bột cục màu trắng (N khai nhận là ma túy Heroine);
- + 01 điện di động OPPO A15 màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0763.827.673;
- + Tiền ngân hàng N2 5.000.000 đồng.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 281/CQ-CSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định chất bột cục màu trắng bên trong 01 gói nilon màu trắng và chất bột cục màu trắng bên trong 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng thu giữ của Trần Xuân N. Tại Bản kết luận giám định số 1667/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng và 01 (một) gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng bên trong gói giấy chứa chất bột cục, màu trắng thu giữ của Trần Xuân N gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng là: 0,997 gam, loại Heroine (H).
* Heroine (H1) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được qui định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-Cp ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
H2 lại đối tượng giám định:
0,795 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 068551, bên ngoài túi niêm phong có 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.”
Ngày 28/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Xuân N tại 9, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Xuân N khai nhận mục đích và nguồn gốc số ma túy N tàng trữ như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 28/12/2023, Trần Xuân N gọi điện thoại cho Hà Hoàng H3, sinh năm 1971, nơi thường trú: Khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ rủ đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Sau đó, H3 đi xe mô tô đến đón N rồi cả hai đi đến khu vực ngã ba T thuộc khu A, xã P, huyện P. Đến nơi, H3 đi gửi xe rồi H3 và N bắt xe khách đi đến thành phố Y thì xuống xe, đứng ven đường. Tại đây, N đưa cho H3 3.000.000 đồng (số tiền này do N lao động mà có) để H3 đi mua ma túy, còn N đứng chờ. H3 lên xe taxi đi khoảng 20 phút thì quay lại đưa cho N gói ma túy có đặc điểm là 01 gói nilon màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột cục màu trắng; N cầm gói ma túy rồi cả hai đi vào khu vực rừng cây vắng người gần đó để sử dụng. N lấy một phần ma túy trong gói ma túy trên cho vào chiếc bơm kim tiêm rồi pha với ống nước N1 chuẩn bị từ trước rồi tiêm vào cơ thể. Số ít vụn ma túy sót lại, N gói vào một mảnh giấy có mặt trong màu vàng, mặt ngoài màu trắng để vào gói nilon chứa ma túy trên rồi cất vào túi quần phía trước bên phải N đang mặc. N khai nhận có chia một phần dung dịch ma túy cho H3 để sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, N và H3 đi xe khách về khu vực gầm cầu vượt đường C - Lào Cai thuộc khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ thì xuống xe, đi bộ vào bên trong gầm cầu vượt. Khi N đang đứng chờ H3 đi lấy xe thì bị tổ công tác Công an huyện P phát hiện, kiểm tra như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã triệu tập Hà Hoàng H3 đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H3 khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 28/12/2023, N gọi điện thoại cho H3 rủ đi đến thành phố Y chơi. H3 đồng ý rồi cả hai đi xe khách theo đường C - Lào Cai đến khu vực lối ra thành phố Y thì xuống xe. H3 đứng ven đường chờ N đi gặp bạn. Do bạn của N không ở nhà nên cả hai đi xe khách quay về. Sau đó, H3 đi lấy xe mô tô để đón N nhưng khi quay lại không thấy N nên H3 điều khiển xe mô tô về nhà. H3 không liên quan đến việc mua bán, sử dụng ma túy.
Tiến hành đối chất giữa H3 và N, H3 và N đều khai nhận như đã nêu trên; H3 không thừa nhận việc N đưa tiền cho H3 để đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Trần Xuân N và Hà Hoàng H3, kết quả, Nam dương tính với chất ma túy H4, H3 âm tính với các chất ma túy.
Quá trình điều tra, Trần Xuân N đã khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSPN ngày 23/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Xuân N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân N từ 06 năm 06 tháng đến 7 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 42 tháng tù của bản án số: 57/2023/HSST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo Trần Xuân N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 10 (Mười) năm đến 10 năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu 01 điện di động OPPO A15 màu xanh đã qua sử dụng và số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 0,795 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 068551, bên ngoài túi niêm phong có 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
- - Trả lại cho Trần Xuân N: 01 sim số 0763.827.673.
Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2024 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2024.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Xuân N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo N vắng mặt nên không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về những chứng cứ xác định có tội hoặc không có tội:
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 10 phút ngày 28/12/2023, tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Trần Xuân N đã có hành vi tàng trữ trên người 0,997gam ma túy, loại Heroine, với mục đích để sử dụng, bị Tổ công tác Công an huyện P phát hiện, thu giữ. Bị cáo có 03 tiền án. Tại Bản án số 24/2015/HSST ngày 29/6/2015, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Nam chấp hành xong ngày 07/02/2023; Bản án xác định thời điểm phạm tội, N chưa được xóa án tích và áp dụng tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2023. Thời điểm phạm tội ngày 28/12/2023, bị cáo chưa được xóa án tích. Hành vi của bị cáo Trần Xuân N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy cần xử lý bị cáo thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma túy.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Xuân N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo Trần Xuân N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi xem xét nhân thân, đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có 03 tiền án và là người có nhân thân xấu, vì vậy lần phạm tội này cần xử phạt bị cáo N một hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội và tổng hợp hình phạt của Bản án số 57/2023/HSST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 42 tháng tù về tội Đánh bạc.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Qua xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, nhưng bị cáo có tài sản riêng là 01 điện di động OPPO A15 màu xanh đã qua sử dụng và số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) thu giữ khi bắt quả tang vì vậy cần phạt bổ sung tịch thu sung quỹ nhà nước đối với 01 điện di động OPPO A15 màu xanh đã qua sử dụng và số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với: 0,795 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 068551, bên ngoài túi niêm phong có 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật chứng của vụ án thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với: sim số 0763.827.673 lắp trong điện di động OPPO A15 màu xanh đã qua sử dụng, quá trình điều tra không xác định được việc N sử dụng vào việc phạm tội vì vậy cần trả lại cho N 01 sim số 0763.827.673.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Xuân N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Xuân N được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đề nghị về các căn cứ pháp luật, đề nghị về hình phạt, xử lý vật chứng và án phí, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân N 06 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 42 tháng tù của bản án số: 57/2023/HSST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo Trần Xuân N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (M) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu 01 điện di động OPPO A15 màu xanh đã qua sử dụng và số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 0,795 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 068551, bên ngoài túi niêm phong có 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
- - Trả lại cho Trần Xuân N: 01 sim số 0763.827.673.
Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2024 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Xuân N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Việt Giang |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
