Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/DS-PT

Ngày 22 tháng 5 năm 2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Các Thẩm phán:

  • Ông Nguyễn Hán Hưởng;
  • Ông Hoàng Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DS-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân (TAND) huyện T, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 15/2024/QĐ-PT ngày 13/3/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1970; tên gọi khác là Năm;

TT: Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Văn P1, sinh năm 1978;

TT: Khu A, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi công tác: Công ty L1 - Đoàn luật sư tỉnh P.

Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 1986 và chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987;

TT: Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền của anh H, chị H1:

  1. Bà Vũ Thị H2;
  2. Bà Đoàn Thị Hồng V;
  3. Bà Đỗ Minh N;
  4. Bà Trần Thị Ngọc Á;

Là thành viên thuộc Công ty L2; Địa chỉ: SN B, đại lộ H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1967;

TT: Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Bà P, ông P1 có mặt; bà H2 có mặt ngày 14/5/2024, vắng mặt ngày 22/5/2024; anh H, chị H1 và bà N vắng mặt ngày 14/5/2024, có mặt ngày 22/5/2024; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)

Người kháng cáo: Bà Hoàng Thị P – là nguyên đơn và anh Nguyễn Tiến H – là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Hoàng Thị P và người đại diện theo ủy quyền của bà P thống nhất trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của bố mẹ bà P là cụ Hoàng Văn T và cụ Nguyễn Thị S khai hoang sử dụng từ năm 1986, 1987 ở khu Đ. Năm 1992, bà P kết hôn với ông Nguyễn Xuân Q, bố mẹ bà P đã làm nhà tạm cho vợ chồng bà P trên đất khai hoang, vợ chồng bà P ở đó khoảng 04 đến 05 năm thì làm nhà chỗ khác, diện tích đất trên bà P trồng keo và đào 01 chiếc ao. Năm 2015 bố mẹ bà P viết giấy chia đất cho các con, trong đó bà P được sử dụng diện tích đất ở Đồi C khoảng 02 sào B (theo bản đồ số mới diện tích 2.464,2m² thuộc thửa số 51, tờ bản đồ số 24) ở Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là đất bố mẹ bà P cho riêng bà P, không phải cho vợ chồng. Năm 2019 lợi dụng bà P đi làm trong Đồng Nai ông Q là chồng bà P đã tự ý chuyển nhượng một phần diện tích đất trên cho vợ chồng anh Ú chị L khoảng 700m² và vợ chồng anh H chị H1 là 1762,7m², khi bà P ở Đồng Nai ra năm 2020 phát hiện ông Q bán đất bà P đã đến gặp anh Ú chị L xin chuộc lại, anh Ú chị L đồng ý và bà P đã chuộc lại, bà không có yêu cầu gì. Còn vợ chồng anh H chị H1 không cho chuộc lại mà bắt bà P phải mua lại đất và tài sản trên đất là ngôi nhà xây cấp 4 cùng công trình phụ, cây cối, hòa mầu trên đất là 800.000.000đ (trong đó: giá trị đất là 300.000.000 đ, giá trị tài sản trên đất là 500.000.000 đ) bà P không đồng ý. Việc ông Q chuyển nhượng đất là tài sản riêng của bà P làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà P. Nay bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố Giấy bán chuyển nhượng đất ngày 23/12/2019 giữa ông Nguyễn Xuân Q với vợ chồng anh Nguyễn Tiến H và chị Nguyễn Thị H1 là vô hiệu; buộc anh H, chị H1 phải trả lại diện tích đất đo thực tế là 1762,7m² cho bà P theo đúng quy định của pháp luật.

Về giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu: Bà P tự nguyện nhất trí nhận lại tài sản của anh H chị H1 có trên đất là nhà ở, nhà bếp, công trình phụ cùng các tài sản hoa màu khác theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và bà P ông Q sẽ có trách nhiệm trả lại cho anh H chị H1 số tiền mua đất, công duy trì tôn tạo đất, cùng giá trị tài sản trên đất của anh H chị H1 theo mức giá của hội đồng định giá.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho ông Trần Văn Q1 ngày 21/9/1996 ông Q1 đã giao cho gia đình anh H, đây là đất trồng lúa, ông Q1 mua bán như thế nào bà P không biết và không yêu cầu xem xét.

Bị đơn anh Nguyễn Tiến H và chị Nguyễn Thị H1 thống nhất trình bày:

Anh H và chị H1 đều xác nhận ngày 23/12/2019 anh chị đã mua của ông Nguyễn Xuân Q khoảng 2000m² đất vườn đồi thửa số 51, tờ bản đồ số 24 tại Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá là 30.000.000đ. Hai bên đã lập Giấy bán chuyển nhượng đất đề ngày 23/12/2019; Anh H, chị H1 đã thanh toán đủ tiền cho ông Q, ông Q đã giao cho anh H, chị H1 01 bìa đất ruộng số L391402 cấp ngày 21/9/1996 đứng tên ông Trần Văn Q1. Sau khi mua đất anh H, chị H1 đã cải tạo đất, múc đất từ đồi san lấp xuống ao, ngoài ra còn mua thêm đất bên ngoài đổ về san lấp vào ao và các vùng đất trũng, giữa năm 2020 anh H, chị H1 xây dựng 01 nhà cấp 4 và các công trình phụ trợ trên đất, trồng cây ăn quả và hoa màu trên diện tích đất đó. Việc mua bán đất giữa vợ chồng anh H chị H1 và ông Q1 là do hai bên tự nguyện thỏa thuận có con gái ông Q1 làm chứng. Nay bà P yêu cầu trả lại đất thì vợ chồng anh H chị H1 cũng đồng ý trả lại đất cùng toàn bộ tài sản trên đất, nhưng bà P và ông Q1 phải có trách nhiệm thanh toán cho anh H chị H1 số tiền là 800.000.000 đồng (trong đó: giá trị đất là 300.000.000 đ, giá trị tài sản trên đất là 500.000.000 đ). Tại phiên tòa hôm nay, anh H, chị H1 thay đổi yêu cầu, anh chị nhất trí trả lại đất cho bà P, yêu cầu bà P, ông Q1 phải trả lại tiền mua đất, công duy trì tôn tạo đất, bà P ông Q1 phải mua lại tài sản trên đất theo quy định của pháp luật. đề nghị HĐXX xem xét.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ruộng trồng lúa, ông Q1 đã giao cho anh H, chị H1 khi mua bán đất không liên quan đến diện tích đất tranh chấp. Nay anh chị nhất trí trả lại cho ông Q1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Xuân Q trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của bố mẹ vợ ông Q khai phá, năm 2015 ông bà chia đất cho các con và chia cho vợ ông Q là bà Hoàng Thị P sử dụng khoảng 02 sào Bắc Bộ thuộc thửa số 51, tờ bản đồ số 24 ở Khu T, xã T. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn bà P phải đi làm ăn trong miền nam, ông Q ở nhà thường hay ốm đau không lao động được nên ông Q đã tự ý bán mảnh đất trên cho vợ chồng anh Ú chị L một phần, còn một phần bán cho vợ chồng anh Nguyễn Tiến H và chị Nguyễn Thị H1 theo giấy bán chuyển nhượng đất ngày 23/12/2019 với giá là 30.000.000đ, ông Q đã nhận đủ tiền. Khi bán thì ông Q nói đất này chưa có bìa đỏ mà chỉ có bìa đất ruộng thì anh H, chị H1 bảo cứ đưa cho anh mượn nên ông Q đã giao cho anh H chị H1 01 bìa đất ruộng số L391402 cấp ngày 21/9/1996. Nay ông Q đề nghị Tòa án tuyên bố Giấy bán chuyển nhượng đất ngày 23/12/2019 giữa ông Q với vợ chồng anh H, chị H1 là vô hiệu; buộc anh H và chị H1 trả lại diện tích đất trên cho bà P; ông Q2 sẽ có trách nhiệm trả lại số tiền bán đất cho anh H, chị H1 theo giá của Hội đồng định giá. Đối với 01 bìa đất trồng lúa số L391402 do UBND huyện T cấp ngày 21/9/1996 đứng tên ông Q, khi bán đất cho anh H, chị huyền, ông Q đã giao cho chị H1, đất này không liên quan đến diện tích đất bán cho anh H, ông Q đề nghị chị H3 trả lại cho ông Q.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Thống nhất như ý kiến của nguyên đơn. Xác định Giấy bán chuyển nhượng đất ngày 23/12/2019 giữa ông Nguyễn Xuân Q với vợ chồng anh Nguyễn Tiến H, chị Nguyễn Thị H1 không tuân thủ theo quy định của pháp luật, đất chưa được cấp giấy chứng nhận, nguồn gốc đất là của bố mẹ bà P, năm 2015 đã chia cho bà P đó lài tài sản riêng của bà phượng, bà P chưa có văn bản nhập vào là tài sản chung vợ chồng. Yêu cầu Tòa án tuyên bố Giấy bán chuyển nhượng đất lập ngày 23/12/2019 giữa ông Nguyễn Xuân Q với vợ chồng anh Nguyễn Tiến H và chị Nguyễn Thị H1 là vô hiệu; buộc anh H, chị H1 trả lại diện tích đất cho bà P. Bà P và ông Q có trách nhiệm trả lại cho anh H và chị H1 giá trị tiền đất, đề nghị Tòa án giao toàn bộ tài sản của anh H, chị H1 có trên đất cho bà P ông Quyền sở h, bà P, ông Q có trách nhiệm thanh toán cho anh H chị H1 giá trị tài sản theo mức giá do hội đồng định giá đã kết luận.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2024/DS-ST ngày 15/12/2024, Tòa án nhân dân (TAND) huyện T đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 117,119, 122, 123, 129, 131, 407, 429, 500 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 1 Điều 188, Điều 203 Luật đất đai 2013; Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị P:

    Tuyên bố Giấy bán chuyển nhượng đất lập ngày 23/12/2019 giữa ông Nguyễn Xuân Q và vợ chồng anh Nguyễn Tiến H, chị Nguyễn Thị H1 là vô hiệu;

  2. Về Hậu quả của giao dịch dân sự:

    Buộc anh H, chị H1 phải trả lại cho bà P 1.762,7m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ trong thửa số 51, tờ bản đồ số 28 ở khu T, xã T, huyện T có chỉ giới theo bản trích đo ngày 08/3/2023 từ 01... đến 25 (Có bản trích đo kèm theo). Vợ chồng bà P, ông Q có trách nhiệm trả lại cho anh H, chị H1 tiền mua đất và công duy trì làm tăng thêm giá trị đất là 65.748.710đ (Sáu lăm triệu bảy trăm bốn tám nghìn bảy trăm mười đồng).

    Tạm giao cho bà Hoàng Thị P được quyền sử dụng diện tích 1.762,7m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ trong thửa số 51, tờ bản đồ số 28 ở khu T, xã T, huyện T bà P phải có nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật. (Theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 16/8/2021 của Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện T).

    Giao cho bà P, ông Q được quyền sở hữu toàn bộ tài sản của anh H, chị H1 trên đất gồm: 01 Nhà ở xây dựng năm 2020 = 91.924.800đ; 01 nhà bếp xây dựng năm 2020 = 29.248.800đ; Nhà vệ sinh xây dựng năm 2020 = 28.461.000đ; S1 và lối đi lát gạch nung, láng vữa xi măng mặt = 5.267.500đ; Mái che sân khu vệ sinh = 2.540.000đ; 03 cây Vải đường kính 5cm/cây = 1.073.700đ; 02 cây Sấu đường kính 23cm/cây = 1.696.000đ; 90 cây Chuối đường kính 20cm/cây = 3.429.000đ; 02 cây Mít đường kính 10cm/cây = 1.315.800đ; 03 cây Hồng Xiêm đường kính 3cm/cây = 213.000đ; 04 cây Ôi đường kính 4cm/cây = 602.000đ; 02 cây Vú Sữa đường kính 2cm/cây = 142.000đ; 02 cây Na đường kính 2cm/cây = 301.000đ; 02 cây Bưởi đường kính 5cm/cây = 315.800đ; 01 cây Cóc đường kính 3cm/cây = 71.000đ; 01 cây Chanh đường kính 3cm/cây = 71.200đ; 03 cây Soài đường kính 7cm/cây = 1.073.700đ; 03 cây Xoan đường kính 10cm/cây = 54.300đ; 13 cây Keo đường kính 18cm/cây = 773.500đ; 02 cây Quất hồng bì đường kính 2cm/cây = 70.000đ; 43 cây Bạch đàn đường kính 10cm/cây = 778.300đ; 07 cây Hoa Hồng đường kính 0,6cm/cây = 19.600đ; Khối lượng đất đào 520m³ = 23.920.000đ. Tổng giá trị tài sản trên đất = 193.362.000đ (Một trăm chín ba triệu ba trăm sáu hai nghìn đồng). Bà P, ông Q có trách nhiệm thanh toán cho anh H chị H1 giá trị tài sản trên đất là 193.362.000đ (Một trăm chín ba triệu ba trăm sáu hai nghìn đồng). Tổng giá trị đất và tài sản trên đất = 259.110.710₫ làm tròn = 259.110.000đ = (Hai trăm năm triệu một trăm mười nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/12/2023, bà Hoàng Thị P kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm về việc buộc gia đình bà phải bồi thường tiền đất và tài sản trên đất và không đồng ý với số tiền án phí mà bản án sơ thẩm đã quyết định.

Ngày 26/12/2023, anh Nguyễn Tiến H kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm về phần bồi thường mà bản án quyết định gia đình bà P bồi thường cho gia đình anh, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét buộc gia đình bà P bồi thường cho gia đình anh số tiền 420.000.000đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh H giữ nguyên nội dung kháng cáo, bà P giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị xem xét phần bồi thường và xin rút nội dung kháng cáo xem xét về án phí. Tại phiên tòa, bà P đề nghị nếu anh H không chấp nhận gia đình bà bồi thường theo giá của hội đồng định gía cấp sơ thẩm thì bà đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm buộc anh H, chị H1 phải tháo dỡ nhà và các công trình trên đất trả lại đất cho bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị P. Áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Tiến H. Sửa bản án sơ thẩm số:18/2023/DS-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của anh Nguyễn Tiến H là bị đơn và bà Hoàng Thị P là nguyên đơn trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Nội dung kháng cáo trong phạm vi xét xử của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bà P rút nội dung kháng cáo đề nghị xem xét phần án phí, xét thấy bà P xin rút một phần nội dung kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[2] Về nội dung kháng cáo:

Đối với nội dung kháng cáo của bà P: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bà P nhất trí tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Q (chồng bà P) với anh H, chị H1 vô hiệu. Hậu quả hợp đồng vô hiệu phía bà P nhất trí nhận lại đất và các tài sản trên đất do gia đình anh H đã tôn tạo, xây dựng và có trách nhiệm thanh toán tiền mua đất và giá trị các công trình trên đất cho anh H, chị H1 theo kết quả định giá của Hội đồng định giá. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử buộc gia đình bà P bồi thường cho anh H, chị H1 giá trị đất và tài sản trên đất theo đúng như kết quả định giá. Bà P kháng cáo không đồng ý và yêu cầu vợ chồng anh H, chị H1 tháo dỡ công trình trên đất trả lại đất cho gia đình bà P. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q với anh H, chị H1 vô hiệu là do lỗi của ông Q khi chuyển nhượng đất cho anh H, chị H1 đã giấu không nói cho anh H, chị H1 biết thửa đất đó là tài sản riêng của bà P (vợ ông Q). Hơn nữa, lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu do cả hai bên đều biết đất chưa được cấp giấy chứng nhận, nhưng vẫn thực hiện giao dịch chuyển nhượng. Nay Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu anh H, chị H1 trả lại đất cho bà P, giao cho bà P quyền sử dụng các tài sản do vợ chồng anh H, chị H1 đã xây dựng và tôn tạo nên và vợ chồng bà P có trách nhiệm thanh toán giá trị đất và tài sản trên đất cho anh H, chị H1 theo kết quả định giá của Hội đồng định giá là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Kháng cáo của bà P đề nghị anh H, chị H1 tháo dỡ công trình trên đất trả lại đất cho bà P không phù hợp với pháp luật nên không được chấp nhận.

Đối với nội dung kháng cáo của anh H kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm quyết định gia đình bà P bồi thường cho gia đình anh là quá thấp, anh đề nghị cấp phúc thẩm xem xét định giá lại tài sản trên đất và buộc gia đình bà P bồi thường cho gia đình anh số tiền 420.000.000đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn đã tiến hành thủ tục định giá đất và các tài sản trên đất, sau khi có kết quả định giá anh H cho rằng kết quả định giá thấp và đề nghị định giá lại. Hội đồng định giá cấp sơ thẩm trả lời đề nghị của anh H và không tiến hành định giá lại. Bản án sơ thẩm đã quyết định trên cơ sở kết quả định giá của Hội đồng định giá. Sau xét xử xong anh H kháng cáo. Tại cấp phúc thẩm anh H đề nghị định giá lại các tài sản trên đất, không đề nghị định giá lại quyền sử dụng đất. Xét thấy, đề nghị của anh H phù hợp với pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành thành lập Hội đồng định giá định giá lại tài sản trên đất theo quy định của pháp luật. Hội đồng định giá lại tài sản, căn cứ quy định của pháp luật đã tiến hành định giá và kết quả định giá lại tài sản trên đất tăng 116.312.858 đồng. Xét thấy, kết quả định giá lại tài sản phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh H kháng cáo đề nghị gia đình bà P bồi thường 420.000.000 đồng, tuy nhiên anh H không xuất trình được chứng cứ chứng minh, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh H, chỉ chấp nhận một phần kháng cáo tăng bồi thường theo kết quả định giá của Hội đồng định giá lại tài sản. Do vậy, có căn cứ sửa bản án sơ thẩm buộc gia đình bà P, ông Q có trách nhiệm thanh toán cho gia đình anh H, chị H1 giá trị các tài sản theo biên bản định giá ngày 26/4/2024 gồm: 01 Nhà ở xây dựng năm 2020 = 160.722.133đ; 01 nhà bếp xây dựng năm 2020 = 42.010.388đ; Nhà vệ sinh xây dựng năm 2020 = 14.083.483đ; 01 xí xổm = 219.914đ; 01 téc nước Inox 15001 = 3.922.287đ; 01 bể phốt 2.565.982đ; Sân và lối đi lát gạch nung, láng vữa xi măng mặt, đường cổng xây năm 2020 = 12.940.901đ; Mái che sân khu vệ sinh = 5.633.806đ; 03 cây Vải đường kính 5cm/cây = 1.073.700đ; 02 cây Sấu đường kính 23cm/cây = 1.696.000đ; 90 cây Chuối đường kính 20cm/cây = 3.429.000đ; 02 cây Mít đường kính 10cm/cây = 1.315.800đ; 03 cây Hồng Xiêm đường kính 3cm/cây = 213.000đ; 04 cây Ổi đường kính 4cm/cây = 602.000đ; 02 cây Vú Sữa đường kính 2cm/cây = 142.000đ; 02 cây Na đường kính 2cm/cây = 301.000đ; 02 cây Bưởi đường kính 5cm/cây = 923.800đ; 01 cây Cóc đường kính 3cm/cây = 71.000đ; 01 cây Chanh đường kính 3cm/cây = 71.200đ; 03 cây Xoài đường kính 7cm/cây = 1.073.700đ; 03 cây Xoan đường kính 10cm/cây = 60.300đ; 13 cây Keo đường kính 18cm/cây = 773.500đ; 02 cây Quất hồng bì đường kính 2cm/cây = 142.000đ; 43 cây Bạch đàn đường kính 10cm/cây = 864.300đ; 07 cây Hoa Hồng đường kính 0,6cm/cây = 19.600đ; Khối lượng đất đào 520m³ = 54.795.035đ. Tổng giá trị tài sản trên đất = 309.665.858đ (Ba trăm linh chín triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm năm tám đồng). Tổng giá trị đất và tài sản trên đất bà P, ông Q thanh toán cho anh H, bà H1 là 65.748.710 + 309.674.858đ = 375.414.566đ làm tròn = 375.415.000₫ (Ba trăm bảy mươi lăm triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng). Bản án sơ thẩm sửa lỗi khách quan do phát sinh tình tiết mới.

[3] Về chi phí tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm: Tại cấp phúc thẩm anh H kháng cáo và đề nghị định giá lại tài sản, số tiền chi phí định gía lại tài sản là 2.000.000đ, anh H đã nộp. Kháng cáo của anh H được chấp nhận nên bà P phải chịu chi phí định giá lại tài sản. Bà P có trách nhiệm hoàn trả anh H 2.000.000đồng.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bà P không được chấp nhận nên bà P phải chịu án phí phúc thẩm. Kháng cáo của anh H được chấp nhận một phần nên anh H không phải chịu án phí phúc thẩm.

Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị P. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Tiến H, sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DS-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 117,119, 122, 123, 129, 131, 407, 429, 500 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 1 Điều 188, Điều 203 Luật đất đai 2013; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị P, tên gọi khác là N1.

    Tuyên bố Giấy bán chuyển nhượng đất lập ngày 23/12/2019 giữa ông Nguyễn Xuân Q và vợ chồng anh Nguyễn Tiến H, chị Nguyễn Thị H1 là vô hiệu;

  2. Về hậu quả của giao dịch dân sự:

    Buộc anh Nguyễn Tiến H, chị Nguyễn Thị H1 phải trả lại cho bà Hoàng Thị P 1.762,7m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ trong thửa số 51, tờ bản đồ số 28 ở khu T, xã T, huyện T có chỉ giới theo bản trích đo ngày 08/3/2023 từ 01... đến 25 (Có bản trích đo kèm theo). Vợ chồng bà Hoàng Thị P, ông Nguyễn Xuân Q có trách nhiệm trả lại cho anh H, chị H1 tiền mua đất và công duy trì làm tăng thêm giá trị đất là 65.748.710đ (Sáu lăm triệu bảy trăm bốn tám nghìn bảy trăm mười đồng).

    Tạm giao cho bà Hoàng Thị P được quyền sử dụng diện tích 1.762,7m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ trong thửa số 51, tờ bản đồ số 28 ở khu T, xã T, huyện T bà P phải có nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật. (Theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 16/8/2021 của Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện T).

    Giao cho bà Hoàng Thị P, ông Nguyễn Xuân Q được quyền sở hữu toàn bộ tài sản của anh H, chị H1 trên đất gồm. 01 Nhà ở xây dựng năm 2020 = 160.722.133; 01 nhà bếp xây dựng năm 2020 = 42.010.388đ; Nhà vệ sinh xây dựng năm 2020 = 14.083.483đ; 01 xí xổm = 219.914đ; 01 téc nước Inox 15001 = 3.922.287đ; 01 bể phốt 2.565.928đ; Sân và lối đi lát gạch nung, láng vữa xi măng mặt, đường cổng xây năm 2020 = 12.940,901đ; Mái che sân khu vệ sinh = 5.633.806đ; 03 cây Vải đường kính 5cm/cây = 1.073.700đ; 02 cây Sấu đường kính 23cm/cây = 1.696.000đ; 90 cây Chuối đường kính 20cm/cây = 3.429.000đ; 02 cây Mít đường kính 10cm/cây = 1.315.800đ; 03 cây Hồng Xiêm đường kính 3cm/cây = 213.000đ; 04 cây Ổi đường kính 4cm/cây = 602.000đ; 02 cây Vú Sữa đường kính 2cm/cây = 142.000đ; 02 cây Na đường kính 2cm/cây = 301.000đ; 02 cây Bưởi đường kính 5cm/cây = 923.800đ; 01 cây Cóc đường kính 3cm/cây = 71.000đ; 01 cây Chanh đường kính 3cm/cây = 71.200đ; 03 cây Soài đường kính 7cm/cây = 1.073.700đ; 03 cây Xoan đường kính 10cm/cây = 60.300đ; 13 cây Keo đường kính 18cm/cây = 773.500đ; 02 cây Quất hồng bì đường kính 2cm/cây = 142.000đ; 43 cây Bạch đàn đường kính 10cm/cây = 864.300đ; 07 cây Hoa Hồng đường kính 0,6cm/cây = 19.600đ; Khối lượng đất đào 520m³ = 54.795.035đ. Tổng giá trị tài sản trên đất = 309.665.858₫ (Ba trăm linh chín triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm năm tám đồng).

    Bà Hoàng Thị P, ông Nguyễn Xuân Q có trách nhiệm thanh toán cho anh Nguyễn Tiến H, chị Nguyễn Thị H1, tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 375.414.566đ làm tròn = 375.415.000đ (Ba trăm bảy mươi lăm triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng).

  3. Về chi phí tố tụng giai đoạn xét xử phúc thẩm: Bà Hoàng Thị P, ông Nguyễn Xuân Q có trách nhiệm hoàn trả cho anh Nguyễn Tiến H, chị Nguyễn Thị H1 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) tiền chi phí định giá tài sản.
  4. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Tiến H, chị Nguyễn Thị H1 phải chịu 300.0000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Buộc bà Hoàng Thị P, ông Nguyễn Xuân Q phải chịu 18.770.750đ (Mười tám triệu bảy trăm bảy mươi nghìn bảy trăm năm mươi đồng) án phí đối số tiền thanh toán giá trị đất và tài sản trên đất cho anh H, chị H1. Xác nhận bà Hoàng Thị P đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2020/0007030 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Bà P, ông Q còn phải nộp 18.470.750đ (Mười tám triệu bốn trăm bảy mươi nghìn bảy trăm năm mươi đồng).

    Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hoàng Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận bà P đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004224 ngày 02/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

    Ông Nguyễn Tiến H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004219 ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS H. Thanh Sơn;
  • - TAND H. Thanh Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Điêu Thị Bích Lượt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/DS-PT ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 29/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị P - Nguyễn Tiến H - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger