Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 29/2024/DS-ST

Ngày: 22 - 4 - 2024

Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình

Bà Nguyễn Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024, về “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Tô Đức H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số B, đường Đ, tổ F, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ G, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Diễm K, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ G, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
    2. Bà Huỳnh Thị Thanh N, sinh năm 1979; nơi thường trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Số B, đường Đ, tổ F, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên toà có mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn trình bày:

Ông Tô Đức H là chủ cửa hàng sắt thép, ông Nguyễn Minh T là thợ hàn sắt, thường xuyên mua sắt cửa hàng ông H để làm công trình cho khách. Từ tháng 12/2020 ông T nhiều lần mua sắt ông H, vì là chổ quen biết nên ông T không thanh thanh toán mà viết hoá đơn công nợ. Ngày 14/01/2022 ông H, ông T có ngồi lại và chốt công nợ, tính đến ngày 14/01/2022 ông T thiếu ông H số tiền mua sắt là 214.179.000 đồng, ông T ký xác nhận công nợ, giao cho ông H giữ. Mục đích chốt nợ là để ông T có trách nhiệm trả số tiền đã nợ cho ông H; Ngày 20/02/2022 ông T lấy thêm sắt với số tiền 330.000 đồng, tổng số tiền ông T nợ ông H là 214.509.000 đồng. Tuy nhiên, kể từ ngày 20/02/2022 đến nay ông T, bà K vẫn không hoàn trả cho ông H số tiền 214.509.000 đồng, mặc dù ông H nhiều lần liên hệ, yêu cầu. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu ông T, bà K liên đới phải trả cho ông H, bà N số tiền 214.509.000 đồng và tiền lãi chậm trả từ 21/02/2022 cho đến nay theo mức lãi 0,83%/tháng, với số tiền là 46.350.389 đồng.

Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà bị đơn trình bày:

Ông T thừa nhận trước đây ông T có nhiều lần mua bán sắt từ ông Tô Đức H, bà Huỳnh Thị Thanh N. Quá trình đó ông T có đưa tiền cho bà K trả cho ông H, bà N nhưng bà K không trả mà sử dụng vào mục đích khác. Ngày 14/01/2022 ông H, ông T có ngồi lại và chốt công nợ, tính đến ngày 14/01/2022 ông T thiếu ông H số tiền mua sắt là 214.179.000 đồng. Mục đích chốt công nợ là để xác định số tiền ông T còn nợ ông H và ông T phải có trách nhiệm phải trả cho ông H, ông T ký nhận vào hoá đơn và giao cho ông H giữ; ngày 20/02/2022 ông T mua thêm sắt với số tiền 330.000 đồng, tổng số tiền ông T nợ ông H là 214.509.000 đồng. Tuy nhiên đến nay ông T, bà K vẫn chưa hoàn trả cho ông H, bà N mặc dù ông H, bà N đã nhiều lần yêu cầu. Mục đích ông T mua sắt để làm ăn, phát triển kinh tế gia đình.

Nên ông T chấp nhận cùng bà K hoàn trả cho ông H, bà N số tiền nợ gốc 214.509.000 đồng và tiền lãi chậm trả như nguyên đơn yêu cầu.

Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Diễm K trình bày:

Nguyễn Thị Diễm K, ông Nguyễn Minh T là vợ chồng. Ông T là người trực tiếp đứng ra thoả thuận và thiếu tiền nợ mua sắt của ông H, bà N; bản thân ông T là người ký giấy nhận nợ, bà K không có liên quan, việc ông T thiếu tiền ông H, bà N thì ông T có trách nhiệm trả.

Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thanh N trình bày:

Thống nhất như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đây là tài sản chung của bà N, ông H; đồng thời mục đích ông T mua sắt là để làm ăn, phục vụ gia đình, nên bà K phải có trách nhiệm liên đới.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về tố tụng:

  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
  • + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông T, bà K liên đới phải trả cho ông HN số tiền 214.509.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi 0,83%/tháng từ ngày 21/02/2022 cho đến nay, đồng thời phải tiếp tục trả lãi theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Bị đơn ông Nguyễn Minh T hiện cư trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2] Theo đơn khởi kiện, chứng cứ do các đương sự cung cấp, do Tòa án thu thập, quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết là “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền” là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 280 Bộ luật dân sự.
  3. [3] Tại phiên toà nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị Diễm K liên đới phải trả cho ông Tô Đức H, bà Huỳnh Thị Thanh N số tiền nợ mua bán sắt là 214.509.000 đồng. Theo ông H đây là khoản tiền ông T nợ mua bán sắt, ngày 14/01/2022 và ngày 20/02/2022 ông H đã chốt công nợ với ông T, nhưng đến nay ông T, bà K vẫn chưa hoàn trả cho ông H, bà N.

    Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông H cung cấp cho Toà án “Hoá đơn”. Quá trình làm việc và tại phiên toà ông T thừa nhận trước đây ông T nhiều lần mua bán sắt của ông H, ngày 14/01/2022 các bên có chốt lại công nợ và xác định tính đến ngày 14/01/2022 ông T nợ ông H số tiền 214.179.000 đồng; chữ ký, họ tên Nguyễn Minh T tại “Hoá đơn” do ông H cung cấp là của ông T. Ngày 20/02/2022 ông T mua thêm sắt với số tiền 330.000 đồng. Số tiền 330.000 đồng ông T mua ngày 20/02/2022 được ghi thêm vào “Hoá đơn” mà các bên đã chốt vào ngày 14/01/2022. Nên tổng số tiền ông T thiếu ông H tính đến ngày 20/02/2022 là 214.509.000 đồng. Mục đích chốt công nợ là để ông T trả tiền cho ông H. Sau khi chốt nợ đến nay ông T vẫn chưa hoàn trả được số tiền nào, đồng thời tại phiên toà ông T chấp nhận liên đới cùng bà K hoàn trả cho ông H, bà N số tiền 214.509.000 đồng, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

  4. [4] Các bên đương sự đều thừa nhận, khi chốt công nợ ngày 14/01/2022 và mua thêm hàng ngày 20/02/2022 các bên không thoả thuận thời hạn trả cụ thể, nhưng việc chốt nợ là nhằm mục đích chốt lại số tiền mà ông T thiếu ông H, để ông T có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ cho ông H, bà N. Tuy nhiên, sau đó ông T không trả được do gặp khó khăn, bản thân ông H, bà N cũng đã nhiều lần liên hệ yêu cầu. Do đó, có cơ sở xác định, kể từ ngày 21/02/2022 đến nay ông T không hoàn trả cho ông H số tiền 214.509.000 đồng, mà các bên đã chốt ngày 14/01/2022 và ngày 20/02/2022 là chậm thực hiện nghĩa vụ. Do đó, yêu cầu tính lãi chậm trả tiền nợ của ông H là có cơ sở.

    Các bên thừa nhận khi chốt nợ mua sắt ngày 14/01/2022 và ngày 20/02/2022 các bên không thoả thuận mức lãi phải trả cụ thể nếu như ông T chậm trả số tiền 214.509.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn ông H yêu cầu ông T, bà K phải trả lãi với mức lãi chậm trả là 0,83%/tháng và ông T cũng đồng ý.

    Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy đinh:

    “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

    2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”

    Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định

    2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

    Xét thấy, mức lãi chậm trả mà nguyên đơn yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời bị đơn ông T cũng đồng ý nên có căn cứ để chấp nhận.

    Từ ngày ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 21/02/2022 đến nay 22/04/2024 là 02 năm 02 tháng 01 ngày; tương ứng với số tiền lãi là 214.509.000 đồng x 0,83%/tháng x 26 tháng 01 ngày là 46.350.389 đồng.

  5. [5] Quá trình giải quyết vụ án bà K cho rằng khoản tiền ông T thiếu nợ ông H, bà N, bà K không có ký giấy, bà không biết, không liên quan, nên bà không đồng ý cùng ông T trả cho ông H, bà N. Mặc dù tại “Hoá đơn” do ông H cung cấp bà K không ký nhận. Tuy nhiên, ông T thừa nhận số tiền ông T thiếu ông H, bà N là tiền nợ mua bán sắt, mục đích mua sắt là để làm công trình cho khách hàng, sau mỗi công trình ông có đưa tiền cho bà K để trả nợ, cũng như trang trải cuộc sống gia đình, nhưng bà K không trả cho ông H, bà N. Nên có cơ sở để buộc ông T, bà K liên đới phải trả cho ông H, bà N số tiền nợ và tiền lãi chậm trả là phù hợp.
  6. [6] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ được chấp nhận, nhằm đảm bảo cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời này do đó tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày 07/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.
  7. [7] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  8. [8] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận, nên cần buộc ông T, bà K phải chịu án phí. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn. Bà N không phải chịu án phí.
  9. [9] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 280, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Các Điều 27, 30, 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Khoản 2 Điều 19 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP, ngày 24/9/2020 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;

1. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Đức H.
  2. Buộc ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị Diễm K liên đới phải trả cho ông Tô Đức H, bà Huỳnh Thị Thanh N số tiền 260.859.389 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu tám trăm năm mươi chín ngàn ba trăm tám mươi chín đồng).

    Trong đó, tiền nợ là 214.509.000 đồng (Hai trăm mười bốn triệu năm trăm lẽ chín ngàn đồng), tiền lãi chậm trả nợ từ ngày 21/02/2022 đến ngày 22/4/2024 là 46.350.389 đồng (Bốn mươi sáu triệu ba trăm năm mươi ngàn ba trăm tám mươi chín đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày 07/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.

3. Về án phí:

Ông Tô Đức H, bà Huỳnh Thị Thanh N không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho ông Tô Đức H số tiền 6.448.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm bốn mươi tám ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004263, ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

Ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị Diễm K liên đới phải chịu 13.042.969 đồng (Mười ba triệu không trăm bốn mươi hai ngàn chín trăm sáu mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - C.C. THA.DS huyện Đức Linh;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 29/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tô Đức Hưng-Nguyễn Minh Tiến
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger