Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 22-4-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Duy Trâm và ông Bùi Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương – Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/HSST-QĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Văn L; tên gọi khác: C; Sinh năm 2001 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay tổ B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp làm nông; trình độ văn hóa (học vấn) 5/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không có; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Văn K; sinh năm 1974 (đã chết) và bà Võ Thị S, sinh năm 1974; gia đình có bốn anh chị em, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2014, bị cáo chưa có vợ, chưa có con; tiền án, năm 2018 phạm tội “trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù giam theo Bản án số 15/2019/HSST ngày 18/3/2019. Năm 2019, phạm tội “cướp tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm 06 tháng tù giam theo Bản án số 41/2019/HSST ngày 16/8/2019. Bị cáo đã chấp hành xong hai Bản án nói trên vào ngày 30/8/2023, chưa được xóa án tích; tiền sự, không có. Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 05/12/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Nguyễn Nhật T; Sinh năm 2003 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp làm nông; trình độ văn hóa (học vấn) 7/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không có; quốc tịch Việt Nam; không rõ tên cha, con bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1974; gia đình có năm anh chị em, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2022, bị cáo là con thứ trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, năm 2019, phạm tội “cướp tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù giam theo Bản án số 41/2019/HSST ngày 16/8/2019. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án nói trên vào ngày 20/10/2022, chưa được xóa án tích; tiền sự, không có. Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 05/12/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  • 1/ Ông Nguyễn Văn M; sinh năm 1963.
  • Địa chỉ: Thôn I, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  • 2/ Bà Nguyễn Thị M1; sinh năm 1968.
  • Địa chỉ: Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  • 3/ Ông Nguyễn Hữu C1; sinh năm 1984.
  • Địa chỉ: Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  • 4/ Bà Trần Thị T1; sinh năm 1991.
  • Địa chỉ: Tổ C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Tất cả 04 người bị hại đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Anh Nguyễn Văn L1. Sinh năm 2001.
  • Người giám hộ cho anh Nguyễn Văn L1 là ông Nguyễn Văn T2.
  • Cùng ở tại địa chỉ: Số A, tổ A đường L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  • Anh L1 và ông T2 có mặt.
  • 2/ Ông Lê T3; sinh năm 1980. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Địa chỉ: Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  • 3/ Ông Lê Nguyễn Nhật M2; sinh năm 2000. Có mặt.
  • Địa chỉ: Số A, tổ A đường L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhằm mục đích trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài nên Trần Văn L, Nguyễn Nhật TNguyễn Văn Đ nhiều lần đi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện D, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20h00 ngày 13/09/2023 Trần Văn L rủ Nguyễn Nhật T cùng Nguyễn Văn L1 đi trộm cắp tài sản. Sau đó, 03 đối tượng điều khiển xe máy BKS: 49G1- 741.33 của T đi đến quán cà phê “Tình Cờ” thuộc thôn E- xã T của ông Nguyễn Văn M phát hiện quán của ông M khóa cửa, không có ai ở quán. Cả 03 đối tượng nói trên dừng xe lại cạnh quán, Nguyễn Văn L1 điều khiển xe máy đi chỗ khác đậu xe cảnh giới còn T dùng kìm bấm mang theo sẵn cạy cửa sổ sau nhà chui vào rồi mở cửa sau cho Trần Văn L đột nhập vào nhà lấy các tài sản gồm: T lấy được 450 tờ vé số, 15 gói thuốc lá, 12 lon nước ngọt, số tiền: 75.000 đồng; Trần Văn L lấy được 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7. Sau khi lấy trộm các tài sản nói trên, các đối tượng đi ra ngoài theo cửa sau rồi đi về nhà. Tiền trộm cắp được các đối tượng đã tiêu xài hết; thuốc lá, nước ngọt các đối tượng đã sử dụng hết, vé số T đã dò nhưng không trúng sau đó vứt bỏ, còn điện thoại Samsung Trần Văn L đưa cho Nguyễn Văn L1 sử dụng, sau đó Nguyễn Văn L1 đã mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 997/KL- HĐĐG ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá huyện D kết luận các tài sản trộm cắp, cụ thể: Điện thoại di động Samsung J7 có giá trị 1.850.000đ, 450 tờ vé số 4.050.000đ, 15 gói thuốc lá 176.000đ, 12 lon nước bò húc 129.200 đ. Tổng trị giá là: 6.205.200 đồng (BL: 157-159).

Vụ thứ 2: Khoảng 20h00 ngày 24/09/2023 Nguyễn Nhật T cùng Nguyễn Văn L1 rủ Trần Văn L đi trộm cắp tài sản. Sau đó, 03 đối tượng điều khiển xe máy BKS: 49G1- 741.33 của T đi đến nhà bà Nguyễn Thị M1 tại tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, Lâm Đồng. Phát hiện nhà bà M1 khóa cửa, không có ai ở nhà. Cả 03 đối tượng nói trên dừng xe lại cạnh nhà, Nguyễn Văn L1 điều khiển xe máy đi chỗ khác đậu xe cảnh giới còn Trần Văn LT leo qua hàng rào B40 vào trong nhà, đi ra cửa sau nhà, T dùng kìm bấm mang theo sẵn cạy cửa đột nhập vào nhà lấy các tài sản gồm: T lấy được 01 con heo đất, bên trong có số tiền: 165.000 đồng, 01 bao lì xì bên trong có số tiền: 40.000 đồng; Trần Văn L lấy được: 01 dây chuyền vàng 3 chỉ (loại vàng 24k), 02 nhẫn đeo tay bằng vàng, mỗi nhẫn 01 chỉ (loại vàng 24k), 01 vòng đeo tay bằng vàng 3 chỉ (loại vàng 18k). Sau khi lấy các tài sản nói trên, 02 đối tượng gọi cho Nguyễn Văn L1 đi xe máy quay lại đón về. Khi về đến nhà, T đã tiêu xài hết số tiền đã trộm cắp được. Trần Văn L thì đưa 01 dây chuyền vàng, 02 nhẫn vàng cho T đi bán cho anh Lê T3 được số tiền: 21.900.000 đồng chia nhau tiêu xài, còn lại 01 vòng đeo tay bằng vàng Trần Văn L cất giấu chưa kịp tiêu thụ. Vật chứng thu giữ: 01 vòng đeo tay bằng vàng (đã trả lại bị hại).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 986/KL- HĐĐG ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá huyện D kết luận: 01 dây chuyền vàng 3 chỉ (loại vàng 24k) giá trị 18.450.000 đ, 02 nhẫn đeo tay bằng vàng, mỗi nhẫn 01 chỉ (loại vàng 24k) giá trị 12.300.000 đ và 01 vòng đeo tay bằng vàng 3 chỉ (loại vàng 18k) giá trị 11.700.000 đ. Tổng trị giá tài sản vụ trộm là: 42.655.000 đồng (BL: 155).

Vụ thứ 3: Khoảng 20h00 ngày 25/09/2023 Nguyễn Nhật T cùng Nguyễn Văn L1 rủ Trần Văn L đi trộm cắp tài sản. Sau đó, 03 đối tượng điều khiển xe máy BKS: 49G1- 741.33 của T đi tìm nhà dân sơ hở không có người trông coi đến nhà ông Nguyễn Hữu C1 tại tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, Lâm Đồng. Phát hiện nhà khóa cổng, không có ai ở nhà. Cả 03 đối tượng nói trên dừng xe lại cạnh nhà, Nguyễn Văn L1 điều khiển xe máy đi chỗ khác đậu xe cảnh giới còn Trần Văn LT leo qua hàng rào B40 vào trong nhà, đi ra cửa sau nhà dùng tua vít và kìm bấm mang theo sẵn cạy cửa đột nhập vào nhà lấy các tài sản gồm: T lấy được 01 dây đeo tay bằng kim loại bạc màu trắng, 01 sợi dây chuyền vàng 610 vàng tây. Trần Văn L lấy được 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu gold, 01 nanh bằng nhựa có hình dạng giống nanh động vật bọc kim loại màu trắng, 01 móng bằng nhựa có hình dạng giống móng động vật bọc kim loại màu trắng, 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10 000 đ và 06 tờ tiền nước ngoài (các tài sản trên đã trả lại cho bị hại). Nguyễn Văn L1 đã mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi lấy cắp các tài sản nói trên, 02 đối tượng gọi cho Nguyễn Văn L1 đi xe máy quay lại đón về. Khi về đến nhà, T cho Nguyễn Văn L1 dây đeo tay bằng kim loại màu trắng, còn sợi dây chuyền vàng T mang đi bán ở 01 tiệm vàng trên địa bàn huyện L (hiện nay T không nhớ được tên và địa chỉ của tiệm vàng nói trên) lấy tiền tiêu xài cá nhân riêng. Các tài sản khác cả 03 đối tượng cất giấu chưa kịp tiêu thụ. Vật chứng thu giữ: 01 dây đeo tay bằng kim loại bạc màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu gold; 01 nanh bằng nhựa có hình dạng giống nanh động vật bọc kim loại màu trắng; 01 móng bằng nhựa có hình dạng giống móng động vật bọc kim loại màu trắng; 07 tờ tiền (trong đó có 06 tờ tiền nước ngoài) có mệnh giá khác nhau (các tài sản trên đã trả lại cho bị hại).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 935/KL- HĐĐG ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá huyện D kết luận các tài sản bị trộm cắp trị giá cụ thể: 01 sợi dây chuyền vàng 610 vàng tây giá trị 19.013.000 đ; 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu gold giá trị 2.183.000 đ, 01 dây đeo tay bằng kim loại bạc màu trắng giá trị 833.333 đ (BL: 140-141, 146-147). Đối với các tờ tiền mệnh giá nước ngoài qua khảo sát của Ngân hàng N quy ra giá trị tiền VNĐ thể hiện (01 tờ Đ1 = 24.503 đ, 01 tờ Bath Thái mệnh giá 20 Bath = 12.456 đ, 01 Rúp Nga mệnh giá 10 rúp= 2.420 đ, 01 Kíp Lào mệnh giá 500 kíp = 605 đ, 01 Kíp Lào mệnh giá 5000 kíp = 6.050 đ, 01 Riel Camphuchia mệnh giá 01 Riel = 5.920 đ) (BL 150-151). Tổng các tài sản trộm cắp trị giá là: 22.115.790 đồng. Đối với 02 nanh bằng nhựa có hình dạng giống nanh động vật bọc kim loại màu trắng không có cơ sở xác định giá trị (bị hại cũng thừa nhận làm từ nhựa, không có giá trị).

Vụ thứ 4: Khoảng 18h00 ngày 28/09/2023 Trần Văn L rủ Nguyễn Nhật T cùng Nguyễn Văn L1 rủ đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài. Sau đó, 03 đối tượng điều khiển xe máy BKS: 49G1- 741.33 của T đi đến nhà bà Trần Thị T1, tại tổ dân phố C, thị trấn D, huyện D, Lâm Đồng, thì phát hiện nhà bà T1 khóa cửa, không có ai ở nhà. Cả 03 đối tượng nói trên dừng xe lại cạnh nhà, Nguyễn Văn L1 điều khiển xe máy đi chỗ khác đậu xe cảnh giới còn Trần Văn LT leo qua hàng rào B40 vào trong nhà, đi ra cửa bên hông nhà dùng rìu đập vỡ kính, cạy cửa đột nhập vào nhà lấy các tài sản gồm: T lấy được 02 đồng hồ đeo tay, Trần Văn L lấy được 01 con heo đất, bên trong có số tiền: 660.000 đồng, 01 bao lì xì bên trong có số tiền 60.000 đồng. Sau khi lấy các tài sản nói trên, 02 đối tượng gọi cho Nguyễn Văn L1 đi xe máy quay lại đón về. Khi về đến nhà, Trần Văn L đã tiêu xài hết số tiền đã trộm cắp được. Tường thì cất giấu 02 đồng hồ đeo tay chưa kịp tiêu thụ. Vật chứng thu giữ: 01 đồng hồ đeo tay, trên mặt đồng hồ có chữ: ROLEX; 01 đồng hồ đeo tay, trên mặt đồng hồ có chữ: Minrado- sapphire(Các tài sản đã trả lại cho người bị hại).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1005/KL- HĐĐG ngày 13/12/2023 của Hội đồng định giá huyện D kết luận trị giá các tài sản trộm cắp, cụ thể: 01 đồng hồ đeo tay ROLEX trị giá 1.200.000 đ, 01 đồng hồ đeo tay M3- sapphire trị giá 1.800.000 đ. Tổng trị giá tài sản vụ trộm là: 3.720.000 đồng (BL: 138).

Vật chứng đang thu giữ: 01 tua vít, 01 kìm bấm và 01 xe máy BKS: 49G1- 741.33.

Trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường tài sản bị thiệt hại, các bị cáo chưa bồi thường.

Ngoài các vụ trộm cắp tài sản nói trên tại địa bàn huyện D, LT còn khai nhận đã gây ra 01 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn xã T, huyện L vào tháng 09/2023. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện D đã có văn bản gửi Cơ quan điều tra công an huyện L để điều tra giải quyết theo thẩm quyền (BL: 172).

Đối với Nguyễn Văn L1 thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (chưa đủ 16 tuổi) đối với tội phạm thực hiện (ít nghiêm trọng) nên Công an huyện D chuyển hồ sơ cho Công an thị trấn D áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định. Đối với anh Lê T3 khi mua tài sản không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại cơ quan điều tra, các bị can đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa:

Sau khi công bố bản cáo trạng số 24A/CT-VKS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh truy tố các bị cáo Trần Văn L, đề nghị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 và bị cáo Nguyễn Nhật T đề nghị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Đối với bị cáo Trần Văn L, đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Điều 58 và Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 04 đến 05 năm tù.

Đối với bị cáo Nguyễn Nhật T, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Điều 58 và Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về phần trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.

Bị cáo Trần Văn L trình bày:

Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù về tội trộm cắp tài sản được khoảng 13 ngày thì lại phạm tội mới. Trong thời gian này, bị cáo không có thu nhập từ công việc làm thuê, tiền công làm thuê bị cáo vẫn chưa được nhận. Các chi phí sinh hoạt, ăn nhậu hàng ngày lấy từ việc bán các tài sản trộm cắp để chi tiêu. Ngoài 04 lần phạm tội trộm cắp này thì bị cáo có tham gia 01 vụ trộm ở huyện L, tỉnh Lâm Đồng đang trong quá trình điều tra. Các bị cáo cùng thống nhất rủ nhau đi tìm tài sản trộm cắp, cùng bán tài sản trộm được tiêu sài không có người chủ mưu cầm đầu. Bị cáo thống nhất với kết quả định giá tài sản, thống nhất với việc áp dụng pháp luật của đại diện Viện kiểm sát, không ý kiến gì. Bị cáo đã biết việc trộm cắp là sai trái, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Nhật T bày:

Bị cáo cùng thống nhất rủ nhau đi tìm tài sản trộm cắp, cùng bán tài sản trộm được tiêu sài không có người chủ mưu cầm đầu. Bị cáo thống nhất với kết quả định giá tài sản, thống nhất với việc áp dụng pháp luật của đại diện Viện kiểm sát, không ý kiến gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại bà Nguyễn Thị M1: Trước khi mở phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Trần Văn L.

Người bị hại bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Hữu C1 và ông Nguyễn Văn M: Có đơn xin vắng mặt, đề nghị giải quyết theo quy định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L1 trình bày:

Bản thân anh và các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Nhật T cùng rủ nhau đi tìm tài sản trộm cắp chứ không có người chủ mưu cầm đầu. Tài sản trộm cắp được thì cùng chia nhau tiêu sài. Hiện nay anh còn sống chung, phụ thuộc gia đình, bản thân không có tài sản gì để thực hiện việc bồi thường.

Người giám hộ cho ông Nguyễn Văn L1 là ông Nguyễn Văn T2 trình bày:

Ông là bố của anh Nguyễn Văn L1. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chưa thật sự quan tâm tới trong việc quản lý các con. Việc anh Nguyễn Văn L1 tham gia trộm cắp có phần lỗi của gia đình do buôn lỏng quản lý. Ông đồng ý bồi thường thay cho anh Nguyễn Văn L1 theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Nguyễn Nhật M2 trình bày:

Anh là anh của Nguyễn Văn L1. Xe mô tô là của anh, khi đi làm xa anh để xe máy ở nhà cho bố mẹ sử dụng. Việc Nguyễn Văn L1 dùng xe máy làm phương tiện trộm cắp thì anh không biết. Anh xin nhận lại xe mô tô, không có ý kiến yêu cầu bồi thường gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê T3 trong quá trình giải quyết có lời trình bày:

Khi mua vàng của các bị cáo, anh không biết tài sản do các bị cáo trộm cắp. Đề nghị các bị cáo L1T và anh Nguyễn Văn L1 trả lại cho anh số tiền mua vàng là 21.900.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì. Do đó các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[1.2] Về việc vắng mặt của những người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét thấy 04 người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, đã có lời trình bày, cơ quan điều tra đã ghi được lời khai. Việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của những người tham gia tố tụng cùng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thấy rằng. Vì mong muốn nhanh chóng có tiền tiêu sài, các bị cáo Trần Văn LNguyễn Nhật T 04 lần lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút, chiếm đoạt. Tại khoản khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến

dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường

hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng

đến 03 năm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm

đến 07 năm:

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

Bị cáo Trần Văn L mới chấp hành xong hình phạt tù về tội trộm cắp tài sản được 13 ngày thì phạm tội mới, bản thân không có thu nhập ổn định, sinh sống bằng tiền trộm cắp, đã liên tục 04 lần phạm tội về tội trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo có tính chuyên nghiệp là đúng quy định. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Lần thứ nhất với giá trị tài sản trộm cắp là 6.205.200đ; lần thứ hai với giá trị tài sản trộm cắp là 42.655.000đ, lần thứ ba với giá trị tài sản là 22.115.790đ và lần thứ tư với giá trị tài sản trộm cắp là 3.720.000đ. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Nhật T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và điều luật quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo Trần Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và điều luật quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện viện kiểm sát đề nghị truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng là đúng tội danh và Điều luật áp dụng.

[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn L phạm tội khi chưa được xóa án tích trong lần phạm tội trước, nay lại phạm tội mới thuộc trường hợp tái phạm. Vì thế Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng năng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Nhật T phạm tội nhiều lần (04 lần), nên còn bị áp dụng thêm tình tiếc tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng đôi với bị cáo Trần Văn L được người bị hại bà Nguyễn Thị M1 có đơn xin bãi nại bị hại. Nên còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

[3.3] Về nhân thân: Căn cứ vào trích lục tiền án, tiền sự của Công an tỉnh L và lý lịch bị cáo thể hiện. Các bị cáo Trần Văn LNguyễn Nhật T còn khai nhận đã gây ra 01 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn xã T, huyện L vào tháng 09/2023. Cơ quan điều tra công an huyện L đang điều tra giải quyết theo thẩm quyền.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

[4.1] Các bị cáo nhận thức và biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn nhiều lần (04 lần) cố ý thực hiện. Các bị cáo có sự điều nghiên, lựa chọn phương thức trộm tài sản, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ tài sản. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức. Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Mức độ nguy hiểm về hành vi và Điều luật áp dụng của bị cáo Trần Văn L là nghiêm trọng hơn bị cáo Nguyễn Nhật T. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Trần Văn L cao hơn hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Nhật T là phù hợp.

[4.2] Do Hội đồng xét xử đã nhận định áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn L1 thực hiện việc trộm cắp khi đủ 15 tuổi nhưng dưới 18 tuổi. Căn cứ Điều 586 của bộ Luật Dân sự năm 2015, thấy rằng ông Nguyễn Văn T2 là cha của anh Nguyễn Văn L1, đồng thời là người giám hộ cho anh Nguyễn Văn L1 phải có trách nhiệm cùng với các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường theo yêu cầu của các bị hại là phù hợp.

[5.1] Bị cáo Trần Văn L, bị cáo Nguyễn Nhật T và ông Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới theo phần bằng nhau, bồi thường cho ông Nguyễn Văn M số tiền 6.205.200đ (sáu triệu hai trăm lẽ năm nghìn hai trăm đồng).

[5.2] Bị cáo Trần Văn L, bị cáo Nguyễn Nhật T và ông Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới theo phần bằng nhau, bồi thường cho bà Nguyễn Thị M1 số tiền 30.955.000đ (ba mươi triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

[5.3] Bị cáo Trần Văn L, bị cáo Nguyễn Nhật T và ông Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới theo phần bằng nhau, bồi thường cho ông Nguyễn Hữu C1 số tiền 19.013.000đ (mười chín triệu không trăm mười ba nghìn đồng).

[6] Về xử lý vật chứng. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[6.1] Trả lại cho bà Nguyễn Thị M1 01 vòng đeo tay bằng vàng (đã trả lại bị hại).

[6.2] Trả lại cho ông Nguyễn Hữu C1: 01 dây đeo tay bằng kim loại bạc màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu gold; 01 nanh bằng nhựa có hình dạng giống nanh động vật bọc kim loại màu trắng; 01 móng bằng nhựa có hình dạng giống móng động vật bọc kim loại màu trắng; 07 tờ tiền (trong đó có 06 tờ tiền nước ngoài) có mệnh giá khác nhau (các tài sản trên đã trả lại cho bị hại).

[6.3] Trả lại cho chị Trần Thị T1: 01 đồng hồ đeo tay, trên mặt đồng hồ có chữ: ROLEX; 01 đồng hồ đeo tay, trên mặt đồng hồ có chữ: Minrado- sapphire(Các tài sản đã trả lại cho người bị hại).

[6.4] Trả lại cho anh Lê Nguyễn Nhật M2: 01 xe máy BKS: 49G1- 741.33.

[6.5] Tịch thu, tiêu hủy 01 tua vít, 01 kìm bấm.

[7] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền phải bồi thường theo quy định.

[8] Hành vi của anh Nguyễn Văn L1 thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (chưa đủ 16 tuổi) đối với tội phạm thực hiện (ít nghiêm trọng) nên Công an huyện D chuyển hồ sơ cho Công an thị trấn D áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định. Đối với anh Lê T3 khi mua tài sản không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt là chưa phù hợp với tính chất và mức độ vi phạm của các bị cáo. Các đề nghị khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn L và bị cáo Nguyễn Nhật T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 và Điều 51; điểm g và điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 586 và Điều 587 của bộ Luật Dân sự năm 2015

3.1. Bị cáo Trần Văn L, bị cáo Nguyễn Nhật T và ông Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới theo phần bằng nhau, bồi thường cho ông Nguyễn Văn M số tiền 6.205.200đ. Phần của bị cáo Trần Văn L là 2.068.333đ (hai triệu không trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng); phần của bị cáo Nguyễn Nhật T là 2.068.333đ (hai triệu không trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng); phần của ông Nguyễn Văn T2 là 2.068.333đ (hai triệu không trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).

3.2. Bị cáo Trần Văn L, bị cáo Nguyễn Nhật T và ông Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới theo phần bằng nhau, bồi thường cho bà Nguyễn Thị M1 số tiền 30.955.000đ (ba mươi triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Phần của bị cáo Trần Văn L là 10.318.333đ (mười triệu ba trăm mười tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng); phần của bị cáo Nguyễn Nhật T là 10.318.333đ (mười triệu ba trăm mười tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng); phần của ông Nguyễn Văn T2 là 10.318.333đ (mười triệu ba trăm mười tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng)

3.3. Bị cáo Trần Văn L, bị cáo Nguyễn Nhật T và ông Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới theo phần bằng nhau, bồi thường cho ông Nguyễn Hữu C1 số tiền 19.013.000đ (mười chín triệu không trăm mười ba nghìn đồng). Phần của bị cáo Trần Văn L là 6.337.666đ (sáu triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng); phần của bị cáo Nguyễn Nhật T là 6.337.666đ (sáu triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng); phần của ông Nguyễn Văn T2 là 6.337.666đ (sáu triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng)

4. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

4.1. Trả lại cho bà Nguyễn Thị M1 01 vòng đeo tay bằng vàng (đã trả lại bị hại).

4.2. Trả lại cho ông Nguyễn Hữu C1: 01 dây đeo tay bằng kim loại bạc màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu gold; 01 nanh bằng nhựa có hình dạng giống nanh động vật bọc kim loại màu trắng; 01 móng bằng nhựa có hình dạng giống móng động vật bọc kim loại màu trắng; 07 tờ tiền (trong đó có 06 tờ tiền nước ngoài) có mệnh giá khác nhau (các tài sản trên đã trả lại cho bị hại).

4.3. Trả lại cho chị Trần Thị T1 - 01 đồng hồ đeo tay, trên mặt đồng hồ có chữ: ROLEX; 01 đồng hồ đeo tay, trên mặt đồng hồ có chữ: Minrado- sapphire(Các tài sản đã trả lại cho người bị hại).

4.4. Trả lại cho anh Lê Nguyễn Nhật M2 01 xe máy BKS: 49G1- 741.33 (tang vật có đặt điểm như biên bản giao nhận giữa Công an D và chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng).

4.5. Tịch thu, tiêu hủy: 01 tua vít, 01 kìm bấm (tang vật có đặt điểm như biên bản giao nhận giữa Công an D và chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng).

5. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Trần Văn L và bị cáo Nguyễn Nhật T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Văn L phải chịu 900.300đ (chín trăm nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Nhật T phải chịu 900.300đ (chín trăm nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T2 phải chịu 900.300đ (chín trăm nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Nhật T, anh Nguyện Văn L2, ông Nguyễn Văn T2 và anh Lê Nguyễn Nhật M2 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người bị hại ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Hữu C1Trần Thị T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê T3 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND huyện Lâm Hà;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Đội CSTHAHS-HTTP CA huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Cường Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger