|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 29 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2023 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Minh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Vinh Hiển
- Ông Trương Văn Lộc
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 66/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2023/QĐST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Mỹ L sinh năm: 1983 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
HKTT: 118/1 KP H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: 38/2B KP H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bị đơn: Ông Dương Thanh H sinh năm: 1979 (vắng mặt)
HKTT: 118/1 KP H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn, bản tự khai và theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Ngô Thị Mỹ L trình bày: bà và ông Dương Thanh H sống chung với nhau từ năm 2002 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong thời gian sống chung, vợ chồng hạnh phúc được khoảng 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là ông H đi làm ăn nhưng không quan tâm cuộc sống vợ con, không phụ giúp vợ nuôi con dẫn đến vợ chồng đã ly thân đã gần 10 năm. Trong thời gian đó, ông H còn ngoại tình và hai bên không còn quan tâm cuộc sống của nhau. Ông H có quan tâm tới cha mẹ ruột nhưng bỏ mặc bà L và các con dù sống rất gần nhau. Nay bà L muốn được tự do nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: bà và ông Dương Thanh H có 03 người con chung tên là: Dương Thanh T (sinh ngày 11/8/2004), Dương Thanh P (sinh ngày 14/8/2009) và Dương Thanh V (sinh ngày 14/10/2011). Dương Thanh T đã trưởng thành. Bà Ngô Thị Mỹ L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu P và V không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn khai không có.
Bị đơn Dương Thanh H đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ nhưng không có văn bản nêu ý kiến và cũng không đến tham gia trong suốt quá trình tố tụng theo giấy triệu tập Tòa án. Qua tiến hành xác minh nơi cư trú thì Công an thị trấn C xác định ông H có hộ khẩu thường trú tại 118/1 KP H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- + Về thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 02 tháng 11 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ có nhận đơn khởi kiện của bà L. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 BLTTDS 2015. Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ đã thụ lý vụ án và phân công thẩm phán giải quyết vụ án theo đúng quy định tại Điều 191 BLTTDS 2015; Điều 195; Điều 196; Điều 197 BLTTDS. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn” đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
- + Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Vụ án trên là tranh chấp về hôn nhân gia đình nơi bị đơn cư trú huyện C nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- + Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.
- + Thủ tục nhận đơn khởi kiện: đúng quy định tại Điều 191 BLTTDS 2015.
- + Về thu thập chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của đương sự.
- + Trong quá trình giải quyết đến thời điểm này thấy rằng bị đơn không làm đơn yêu cầu phản tố lại nguyên đơn nên không làm thay đổi địa vị pháp lý của họ.
- + Vụ án được thụ lý từ ngày 02 tháng 3 năm 2023, đến ngày 12 tháng 7 năm 2023 Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015. Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định. Tòa án có cấp đầy đủ văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và đương sự.
- + Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Bị đơn đã không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nhận thấy bà Ngô Thị Mỹ L và ông Dương Thanh H tự nguyện sống chung từ năm 2002, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/12/2002 tại UBND thị trấn C, huyện C (giấy kết hôn số 181). Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa, ông H đi làm ăn nhưng không quan tâm đến vợ con, không phụ giúp vợ con dẫn đến vợ chồng đã ly thân 10 năm nay. Về phía ông H mặc dù đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến các phiên hòa giải, thể hiện ý thức bỏ mặc, không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy quan hệ vợ chồng phải xuất phát từ tình cảm yêu thương chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, giữa bà L và ông H không còn tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng giữa hai vợ chồng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà L xin ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: có 03 con chung là cháu Dương Thanh T sinh ngày 11/8/2004 (đã trưởng thành). Cháu Dương Thanh P sinh ngày: 14/8/2009 và cháu Dương Thanh V, sinh ngày: 14/10/2011. Bà L yêu cầu được nuôi 02 cháu P và V đến khi trưởng thành là phù hợp theo nguyện vọng của 02 cháu. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng.
Về tài sản và nợ chung: bà L không yêu cầu tòa án giải quyết.
Vì các lẽ trên, đề nghị HĐXX:
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận yêu cầu của xin ly hôn của bà Ngô Thị Mỹ L Giao cháu Dương Thanh P sinh ngày: 14/8/2009 và cháu Dương Thanh V, sinh ngày: 14/10/2011 cho bà L nuôi dưỡng cho đến các cháu lần lượt đủ 18 tuổi.
Về án phí: bà L nộp đơn ly hôn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Ngô Thị Mỹ L có đơn yêu cầu ly hôn đối với ông Dương Thanh H. Ông Hải đăng kí hộ khẩu thường trú tại 118/1 KP H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự để xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Ngô Thị Mỹ L và ông Dương Thanh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận số 181 ngày 16/12/2002 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Ngô Thị Mỹ L và ông Dương Thanh H là hợp pháp, quyền lợi của các bên được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông H: bà L yêu cầu được ly hôn với ông Dương Thanh H vì tình cảm vợ chồng không còn. Hai vợ chồng đã ly thân 10 năm là quá dài. Do thiếu hiểu biết pháp luật nên bà L đã bỏ mặc, không tiến hành thủ tục ly hôn dù trên thực tế đã không còn liên lạc với ông H trong thời gian dài. Theo lời khai của bà L khi bà L nộp đơn ly hôn thì được Trung tâm hòa giải, đối thoại tại tòa án thụ lý giải quyết. Bà L có đến nhà tìm ông H nhưng ông trốn tránh, không gặp mặt. Gia đình ông H đều biết sự việc này.
Xét trong thời gian bà L yêu cầu ly hôn Tòa án đã thông báo các văn bản tố tụng đối với yêu cầu của bà L nhưng không nhận được bất kì thông tin nào từ phía ông H thể hiện động thái nhằm níu kéo hạnh phúc gia đình. Từ đó cho thấy ông H không muốn tiếp tục cuộc sống vợ chồng với bà L nên bỏ mặc cuộc hôn nhân này. Bản thân bà L cũng không mong muốn đoàn tụ với ông H. Qua đó Tòa án đã tiên hành xác minh tình trạng hôn nhân của hai đương sự nhưng không nhận được kết quả trả lời từ chính quyền địa phương.
Xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, cùng vun đắp, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa bà L và ông H đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Ngô Thị Mỹ L yêu cầu ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở để chấp nhận.
- Về con chung: Bà Ngô Thị Mỹ L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung tên là Dương Thanh P (sinh ngày 14/8/2009) và Dương Thanh V (sinh ngày 14/10/2011) cho đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu này là có cơ sở bởi trong thời gian qua cuộc sống của các cháu vẫn ổn định và phát triển lành mạnh. Ông H không thực hiện đúng trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của các con trong một thời
gian dài trước và sau khi bà L nộp đơn ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà Ngô Thị Mỹ L.
Đối với Dương Thanh T đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: đương sự khai không có.
[4]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Do bà Ngô Thị Mỹ L là người nộp đơn ly hôn đối với ông Dương Thanh H nên bà Ngô Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 71, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
- - Áp dụng vào Điều 51, Điều 53, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình
- - Áp dụng vào các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Mỹ L đối với ông Dương Thanh H. Quan hệ hôn nhân của ông H và bà L chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Dương Thanh P (sinh ngày 14/8/2009) và Dương Thanh V (sinh ngày 14/10/2011) cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi. Không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với ông H trong vụ án này. Ông Dương Thanh H có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng; người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, bà L phải tạo điều kiện để ông H thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của mình.
3. Tài sản chung và nợ chung: Không có.
4. Về án phí:
Bà Ngô Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0046165 ngày 02/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ; bà Ngô Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Minh |
Bản án số 29/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 29/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
