TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/5/2024
V/v “ Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Lê Thế Hải
- Bà: Nguyễn Thị Sen
- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2024/QÐST – ST, ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V – Sinh năm: 2002
HKTT: Thôn T, xã T, Tx. N, Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Thôn P, xã P, tx. N, Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Trần Văn Đ - Sinh năm: 1995
HKTT: Thôn T, xã T, Tx. N, Thanh Hóa.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Nguyễn Thị V trình bày như sau: Chị và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã N vào ngày 23/02/2022. Sau khi kết hôn được 03 tháng thì vợ chồng chị có đi khám sức khỏe sinh sản thì phát hiện anh Đ không có khả năng sinh con. Vợ chồng chị đã bàn bạc, động viên nhau cố gắng tiết kiệm tiền để tìm đến phương pháp thu tinh nhân tạo. Kể từ khi đi khám cho đến tháng 9/2023 chị đã nhiều lần đề cập đến vấn đề thụ tinh nhân tạo mà chồng chị không trả lời, cũng không nghe chị nói dân đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau. Bản thân chị là người phụ nữ, chị có khao khát được làm mẹ, và chị đã cố gắng động viên anh Đ nhưng anh Đ không hợp tác cùng chị. Chị và anh Đ sống ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Chị V và anh Đ không có con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về quan điểm của anh Trần Văn Đ: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Trần Văn Đ nhiều lần nhưng anh Đ cố tình không chấp hành. Đã tự mình từ chối quyền và nghĩa vụ theo tố tụng nên không thể làm việc với anh Trần Văn Đ được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, về phía bị đơn không chấp hành theo đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị V. Về hôn nhân: Xử cho chị V được ly hôn với anh Đ. Về con chung và về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Văn Đ là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự nhưng tại phiên tòa vắng mặt anh Trần Văn Đ không có lý do. Chị V đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Do anh Đ cố tình trốn tránh nên Tòa án không thể làm việc được. Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện chị V và anh Đ kết hôn hợp pháp, hiện tại anh chị đã sống ly thân. Anh Đ vẫn sống cùng nhà với bố mẹ đẻ còn chị V đã đi nơi khác sống. Về nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm được. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã làm việc với ông Trần Văn T và bà Phạm Thị P là bố mẹ đẻ của anh Đ. Ông bà cho biết, sau khi kết hôn vợ chồng anh Đ và chị V sống chung nhà với ông bà, trong cuộc sống ông bà không thấy hai con xảy ra xích mích gì. Từ tháng 7/2023 chị V bỏ về nhà mẹ đẻ ở P cho đến nay. Nay hai con ly hôn, ông bà để các con tự quyết định. Trên cơ sở lời khai của chị V, xác minh tại chính quyền địa phương và quá trình làm việc với ông T và bà P1 là bố mẹ đẻ anh Đ, HĐXX xác định cuộc sống vợ chồng chị V và anh Đ có xảy ra mâu thuẫn, hiện tại vợ chồng anh chị đang sống ly thân. Chị V đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ lâu tuy nhiên anh Đ không có biện pháp níu kéo hay cải thiện mối quan hệ vợ chồng, cho thấy rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 51, 56 Luật HN&GĐ xử cho chị V được ly hôn đối với anh Đ.
[3] Về con chung: Không có con chung
[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Buộc chị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Xét về quan điểm của Đại diện viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị V
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
- Về con chung: Không có con chung
- Về tài sản và công nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007066, ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị V đã thi hành xong phần án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Cúc |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị V và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn
