Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 29/2024/HSST

Ngày: 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông: Đoàn Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Khon Sốc

Ông Hồ Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Hữu T, sinh ngày 03-02-1996, tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Tứ Ân Hiếu Nghĩa; con ông Lê Văn Hiếu T1 và bà Trương Thị Thu T2; chưa có vợ, con; Anh, em có 03 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-01-2024 đến đến nay, bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1989, nơi cư trú: khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng:

- Ông Ngô Văn N, sinh năm 1980, vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 18-01-2024, nhận được tin báo của nhân dân, lực lượng Công an thị trấn B đến khu vực khóm A, thị trấn B, huyện T, thấy Nguyễn Minh T3 điều khiển xe mô tô biển số 67N1-186.44 chở Lê Hữu T ngồi sau có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra, T liền xuống xe, ném 01 bọc nilon trong suốt, một đấu có khóa bóp viền màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) xuống đường cách khoảng 4m, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Qua làm việc, T khai nhận bọc nilon bị thu giữ là ma túy đá, do T mua của T4 (người Campuchia) tại khu vực cửa khẩu Quốc tế T5, để dành sử dụng thì bị bắt quả tang.

Ngày 26-01-2024, T bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra cho đến nay.

Vật chứng thu giữ:

- 01 bọc nilon trong suốt, một đấu có khóa bóp viền màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Căn cứ Kết luận giám định số 117/KL-KTHS(MT-GT) ngày 21-01-2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa viền màu xanh chứa tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3010 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 31/CT-VKSTT.HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

2

Xử phạt bị cáo T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Nhận thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số 117/KL-KTHS ngày 21-01-2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Trần Phương N1. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, là ma túy Methamphetamine, khối lượng: 0,2523 gam (không phẩy hai năm hai ba gam).

Đối với Nguyễn Minh T3 có hành vi chở bị cáo đi nhờ, T3 không biết bị cáo cất giấu ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T3 là có căn cứ.

Đối với người bán ma túy tên T4 chữa rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

3

[2] Về nội dung

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do bị cáo sử dụng ma túy đã lâu, nên bị cáo đến khu vực cửa khẩu Quốc tế T5 mua 01 bọc ma túy cất giấu để sử dụng. Sau đó, nhờ T3 chở đến nhà bạn, khi đi đến khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

[3] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra và cũng phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cũng như bản Kết luận giám định số 117/KL-KTHS(MT-GT) ngày 21-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh A cùng các chứng cứ khác trong quá trình điều tra đã thu thập hợp pháp, đúng quy định của pháp luật. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 18-01-2024, bị cáo đi nhờ xe mô tô 67N1-186.44 do T3 điều khiển, khi đến khu vực khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo cất giấu 01 bọc ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3010 gam. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, tạo sự lo lắng bất an trong quần chúng nhân dân, bị cáo biết ma túy là một tệ nạn nguy hiểm, mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét về nhân thân, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải biết phận đấu học tập, rèn luyện bản thân trở thành người hữu dụng, trái lại bị cáo lao vào nghiện ngập, không chí thú làm ăn, điều này thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém của bị cáo. Cần phải áp dụng một chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

4

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số 117/KL-KTHS ngày 21-01-2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Trần Phương N1. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, là ma túy Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,2523 gam (Không phẩy hai năm hai ba gam). Đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Minh T3 có hành vi chở bị cáo đi nhờ, T3 không biết bị cáo cất giấu ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Đối với người bán ma túy tên T4 chữa rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Hữu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 18-01-2024 (Ngày mười tám tháng một năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số 117/KL-KTHS ngày 21-01-2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Trần Phương N1. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, là ma túy Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,2523 gam.

5

(Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý, theo biên bản giao nhận ngày 20-5-2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện T).

Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;

Bị cáo Lê Hữu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - THADS huyện Tri Tôn;
  • Sở tư pháp An Giang;
  • - THA hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Hùng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HSST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 29/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger