Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲ CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày: 21 – 5 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Anh Tú.

2/ Bà Lô Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST – HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vi Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1992 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Sỹ T1 và bà Lữ Thị K; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023 đến nay. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn T3, sinh năm: 1994; Tên gọi khác: Q; Trú tại: Bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma túy nên sau khi tìm hiểu thông tin qua những người nghiện ma túy khác Vi Văn T được biết tại khu vực ngã ba bưu điện cũ thuộc khối T, thị trấn T, huyện Q thường có một người đàn ông tên gọi là H hay bán ma túy cho những người nghiện ma túy tại khu vực đó, khoảng 10 giờ ngày 28/12/2023 T đi bộ một mình từ nhà nhằm đi tới khu vực trên tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực sân vận động thị trấn T thuộc khối C, thị trấn T, huyện Q thì T gặp bạn là Hoàng Văn T3 (tên gọi khác là Q), sinh năm 1994, trú tại bản Đ, xã C, huyện Q sau khi ngồi uống nước với nhau được một lúc T hỏi mượn xe đạp điện với T3 nói dối là để đi mua thức ăn, do không nghi ngờ gì nên T3 đồng ý cho T mượn xe. Sau đó T điều khiển xe đến khu vực ngã ba bưu điện cũ tại khối T, thị trấn T, tại đó T gặp một người đàn ông không quen biết đội mũ, mặt bịt khẩu trang đang đứng một mình bên đường, nghĩ đó là người tên H nên T đến hỏi mua 04 (bốn) viên hồng phiến với số tiền 280.000đ (hai trăm tám mươi nghìn đồng) và được người đàn ông đồng ý bán, sau khi mua được ma túy T cất giấu gói ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi về, khi đến khu vực sân vận động thị trấn T thì bị tổ công tác Công an xã C yêu cầu kiểm tra hành chính phát hiện trong túi áo khoác đang mặc 01 (một) gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu đen bên trong có chứa 04 viên nén đồng dạng hình tròn, màu hồng (nghi là ma túy) nên đã tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, niêm phong vật chứng đưa về trụ sở điều tra, xử lý theo quy định.

Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 28/12/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định: Sau khi mở niêm phong, bên trong gói niêm phong có 01 (một) gói được bọc bằng mảnh bao ni lông màu đen, bên trong chứa 04 (bốn) viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng có tổng khối lượng cả bì là 0,44g (Không phẩy bốn mươi bốn gam); Sau khi loại bỏ bao bì, 04 (bốn) viên nén đồng dạng màu hồng có tổng khối lượng là 0,375g (không phẩy ba trăm bảy mươi lăm gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,195g (không phẩy một trăm chín mươi lăm gam) để đưa đi giám định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại bao gồm 0,18g (không phẩy mười tám gam) viên nén màu hồng, mảnh bao ni lông màu đen và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo đúng quy định.

Kết luận giám định số: 107/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 02/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng thu giữ của Vi Văn T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

- Số viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng thu giữ của Vi Văn T có tổng khối lượng là 0,375g (không phẩy ba trăm bảy mươi lăm gam).”

Bản cáo trạng số: 26/CT-VKS-QC ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Vi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.

Ngoài ra buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng còn lại gồm 0,18g (không phẩy mười tám gam) ma túy, mảnh bao ni lông màu đen cùng toàn bộ vỏ bao lấy mẫu, niêm phong cũ được niêm phong lại theo đúng quy định.

- Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt theo như truy tố của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến các yếu tố bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu và chỉ nhằm thỏa mãn cơn nghiện không nhằm mục đích thu lợi bất chính, khối lượng ma túy ít, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung thêm vào bản bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, tuy nhiên trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, phù hợp lời khai của bị cáo, căn cứ vào Điều 293 Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng là đúng quy định.

[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, đối chất, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 28/12/2023 tại khu vực sân vận động thị trấn T thuộc khối C, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Khi tiến hành kiểm tra hành chính đối với bị cáo Vi Văn T, tổ công tác Công an xã C bắt quả tang bị cáo cất giấu trong túi áo khoác bên trái đang mặc 01 (một) gói ma túy được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu đen bên trong chứa 04 viên nén đồng dạng màu hồng (Methamphetamine) với mục đích để sử dụng, khối lượng ma túy sau khi loại bỏ bao gói có tổng trọng lượng là 0,375g (không phẩy ba trăm bảy mươi lăm gam). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, để nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa nhận thấy, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng để thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Căn cứ vào lời khai của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh tại khối T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An có một người đàn ông tên là Hoàng Xuân H1, sau khi tiến hành đối chất với bị cáo anh Hoàng Xuân H1 khai nhận ngày 28/12/2023 không gặp bị cáo, không quen biết, cũng như không có sự việc bán ma túy cho bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo không có người làm chứng hay chứng cứ khách quan gì chứng minh.

Anh Hoàng Văn T3 (tên gọi khác Q) là người đồng ý cho bị cáo mượn chiếc xe đạp điện, qua điều tra xác minh được anh T3 không biết và không có lỗi trong việc bị cáo đưa xe đi với mục đích để mua ma túy sử dụng, do đó cơ quan điều tra Công an ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T3 là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy Methamphetamine còn lại 0,18g (không phẩy mười tám gam) là chất thuộc danh mục nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành dưới mọi hình thức, những vật chứng khác gồm mảnh bao ni lông màu đen cùng vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vi Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 28/12/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,18 (không phẩy mười tám gam) ma túy (Methamphetamine) cùng mảnh bao ni lông màu đen và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi: “Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định thuộc vụ Vi Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 28/12/2023 tại khối C, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An”... (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng, lập ngày 03/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An)

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vi Văn T chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, NA;
  • - Bị cáo;
  • - lưu HS, VP;

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

(Đã ký)

Hà Văn Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T nghiện chất ma túy nên đã mua với một người đàn ông qua đường không rõ tên tuổi, địa chỉ với số tiền 280.000đ và được người đàn ông bán cho 04 viên ma túy tổng hợp (methamphetamine) có tổng trọng lượng sau khi loại bỏ bao gói là 0,375g với mục đích cất giấu để sử dụng dần.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger