|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HNGĐ – ST
Ngày 11 tháng 12 năm 2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Thọ và bà Đinh Thị Nguyệt;
- - Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Đình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Phú thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2025/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 20 25 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 01/12/2025.
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khu Đ, xã C, tỉnh Phú Thọ;
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Phố V, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại đội 20, phân trại số B, Trại Giam Q thuộc xã B, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2025 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 14/02/2023, chị và anh Nguyễn Văn D đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ, nay là xã C, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó, anh D phải đi chấp hành án với thời gian chấp hành là 12 năm tại trại giam Q thuộc xã B, tỉnh Tuyên Quang.
Kể từ thời điểm anh D đi chấp hành án, hai bên không giữ liên lạc, thăm nom, chăm sóc anh D. Hiện tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ, cho chị ly hôn với anh D.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chưa có con chung nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Về phía bị đơn: Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/11/2025, anh Nguyễn Văn D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận vợ chồng có đăng ký kết hôn; Năm 2023 anh phải đi chấp hành án, kể từ thời điểm đó vợ chồng không liên lạc, thăm nom, chăm sóc nhau. Nay chị T xin ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Anh Dũng xác nhận vợ chồng chưa có con chung.
Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh Dũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn, Bị đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chị T và anh D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Năm 2023, anh D phải đi chấp hành án, kể từ thời điểm đó, hai bên không quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau. Mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được, bên cạnh đó, cả hai tự nguyện xin ly hôn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và anh D. Về con chung: Xác nhận hai bên chưa có con chung; Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Nguyên đơn, Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, do anh D đang chấp hành án phạt tù, chị T xin tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về án phí của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ cho chị ly hôn với anh D, căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung ngày 25/6/2025 (dưới đây viết là Bộ luật tố tụng dân sự) thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn đang phải chấp hành hình phạt tù và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn, Bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 14/02/2023, chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ). Quan hệ hôn nhân giữa hai bên được xác lập là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn trình bày về việc sau khi kết hôn được thời gian ngắn thì anh D phải đi chấp hành án tại Đội 20, phân trại số B, trại giam Quyết Tiến thuộc xã B, tỉnh Tuyên Quang. Kể từ thời điểm anh D đi chấp hành án, hai bên không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.
Bên cạnh đó, anh D cũng xác nhận kể từ thời điểm anh phải đi chấp hành án, tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Anh đồng ý xin ly hôn với chị T.
Theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 3, Điều 4 của Nghị Quyết số 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”;
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị T và anh D cùng có nguyện vọng xin được ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị T và anh D là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T, anh D không yêu cầu tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.
[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 và hướng dẫn tại tiết 11, mục IV của văn bản số: 02/TANDTC – PC ngày 02 tháng 8 năm 2021 thì chị T, anh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm tương ứng như trường hợp các bên thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, hiện anh D đang phải chấp hành án và chị T tự nguyện chịu thay phần án phí cho anh D. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về án phí của chị T là phù hợp.
[6]. Về quyền kháng cáo: Chị T, anh D có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng Điều 55, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 của BLTTDS năm 2015.
- - Áp dụng điểm a, khoản 5, Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Chị T, anh D chưa có con chung.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận ngày 21/10/2025, chị T đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0003990 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả lại cho chị T 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp.
- Về quyền kháng cáo: Chị T, anh D có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tân Khải Nhân |
5
6
Bản án số 29/2025/HNGĐ – ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ về ly hôn
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ - ST
