|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày: 18 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hiền.
- Ông Lê Thanh Hiền.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS, ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn H. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 04 tháng 12 năm 1968 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn T (đã chết) và bà Vi Thị T1; Anh chị em ruột 04 người, bị cáo là con thứ 02; Vợ Vi Thị T2, sinh năm 1976, con 02 con lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1996.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo Vi Văn H bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/02/2025 đến nay. Có mặt.
Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo pháp luật ông Lô Văn T3. Chức vụ: Chủ tịch. Người đại diện theo ủy quyền của ông Lô Văn T3: Ông Trần Anh T4. Chức vụ: Phó chủ tịch UBND huyện C. Có đơn xin xử vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn H: Ông Nguyễn Văn H1 – Trợ giúp viên. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Vi Thị T2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Anh Lê Tuấn S, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn B, thị trấn T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 12 năm 2006, gia đình Vi Văn H được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An giao quyền sử dụng thửa đất rừng số 60, tờ bản đồ số 5 (Bản đồ lâm nghiệp) với diện tích là 178.371m² tại khu vực K, thuộc bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Đến ngày 29/12/2023, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 4203/QĐ-UBND về việc giao đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân tại xã B, huyện C, trong đó có giao cho hộ gia đình Vi Văn H thực hiện việc quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng được giao theo đúng quy định của pháp luật trên thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận. Khoảng tháng 12 năm 2024, do muốn phát triển kinh tế từ việc trồng cây keo tại đất rừng đã được Nhà nước giao quản lý nên Vi Văn H đã mang theo 01 con dao (dạng dao thái, dài 46cm) một mình đi vào khu vực rừng tại các lô 20, 24, 28, khoảnh 10, tiểu khu G, thửa đất số 60, tờ bản đồ số 5, bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An để chặt toàn bộ các cây nứa, dây leo, bụi rậm và một số cây thân gỗ nhỏ. Đối với các cây thân gỗ lớn còn lại thì Vi Văn H sử dụng một máy cưa xăng cầm tay nhãn hiệu KYORITSU ECHO để cưa hạ toàn bộ. Vi Văn H chặt phát rừng trong thời gian 5 ngày thì Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An phát hiện, lập biên bản ghi nhận sự việc và yêu cầu Vi Văn H chấp dứt hành vi chặt phá rừng.
Ngày 02/01/2025, Tổ công tác Hạt kiểm lâm huyện C và Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An kiểm tra và phát hiện diện tích rừng bị chặt nên tổ công tác đã tiến hành lập hồ sơ. Ngày 20/01/2025, Hạt kiểm lâm C đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C đề nghị khởi tố vụ án hình sự.
Ngày 13/02/2025, đoàn kiểm tra liên ngành đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, vẽ sơ đồ, xác định hiện trạng rừng bị chặt phá đã xác định: Khu vực rừng bị Vi Văn H chặt phá gồm các lô 20, 24, 28, khoảnh 10, tiểu khu G, thửa đất số 60, tờ bản đồ số 5, thuộc bản Nà Cọ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An.
Diện tích bị tác động là 10.844m². Diện tích rừng bị hủy hoại có trạng thái rừng là rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (ký hiệu là TXN – rừng tự nhiên có trữ lượng).
Tại công văn số 565/SNN-KL Ngày 18/02/2025 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh N xác định tổng diện tích bị tác động là 10.844m² có trạng thái là Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (ký hiệu TXN) (rừng tự nhiên có trữ lượng). Toàn bộ diện tích đất nêu trên đã được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An giao cho hộ gia đình ông Vi Văn H, trú tại bản Nà Cọ, xã B, huyện C, Nghệ An quản lý sử dụng (chỉ giao đất chưa giao tài sản là rừng gắn liền với đất. Rừng trên đất thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân huyện C).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS, ngày 12/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: “Rừng tự nhiên bị hủy hoại tại các lô 20, 24, 28, khoảnh 10, tiểu khu G, thửa đất số 60, tờ bản đồ số 5, thuộc địa phận bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An có tổng diện tích 10.844m² (Mười nghìn tám trăm bốn mươi bốn mét vuông), có trạng thái rừng là rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (ký hiệu TXN) (rừng tự nhiên có trữ lượng), trữ lượng bình quân trung bình trên 8,87m³/OTC, trữ lượng trung bình/ha là 57,394m³/ha có giá trị là 21.780.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) máy cưa cầm tay nhãn hiệu KYORITSU ECHO, vỏ máy bằng nhựa màu cam – đen; lưỡi cưa bằng kim loại, dài 48cm, phần lưỡi sắc của cưa được gắn 01 dây xích kim loại dài 112cm. Máy đã qua sử dụng; 01 (một) con dao (dạng dao thái) dài 46cm; phần lưỡi dao bằng kim loại, lưỡi sắc, đầu không nhọn, đã bị rỉ sét, dài 27cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6cm, nơi hẹp nhất 3cm,; cán dao làm bằng gỗ hình trụ tròn dài 21cm, đường kính 3cm.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự Ủy Ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về rừng với số tiền 21.780.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
Cáo trạng số 29/CT-VKS-CC ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố Vi Văn H về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm đ khoản 2 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và luận tội đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vi Văn H mức từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Hủy hoại rừng” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về rừng cho nguyên đơn dân sự số tiền 21.780.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng). Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng là 01 (một) máy cưa cầm tay nhãn hiệu KYORITSU ECHO, vỏ máy bằng nhựa màu cam – đen; lưỡi cưa bằng kim loại, dài 48cm, phần lưỡi sắc của cưa được gắn 01 dây xích kim loại dài 112cm. Máy đã qua sử dụng; 01 (một) con dao (dạng dao thái) dài 46cm; phần lưỡi dao bằng kim loại, lưỡi sắc, đầu không nhọn, đã bị rỉ sét, dài 27cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6cm, nơi hẹp nhất 3cm,; cán dao làm bằng gỗ hình trụ tròn dài 21cm, đường kính 3cm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo hiện nay là lao động duy nhất trong gia đình để lao động chăm sóc mẹ già yếu thường xuyên ốm đau. Đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn H đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và chăm sóc mẹ già yếu ốm đau thường xuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào tháng 12 năm 2024, Vi Văn H đã có hành vi chặt phá rừng tại các lô 20, 24, 28, khoảnh 10, tiểu khu G, thửa đất số 60, tờ bản đồ số 5, thuộc địa phận bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An là rừng tự nhiên có trữ lượng với tổng diện tích 10.844m² (Mười nghìn tám trăm bốn mươi bốn mét vuông) giá trị rừng tại thời điểm bị hủy hoại là 21.780.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng). Mục đích chặt phá rừng là để trồng keo phát triển kinh tế gia đình. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến sự bền vững và ổn định của môi trường sinh thái, gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an trên địa bàn. Vì vậy cần xử lý nghiêm hành vi của bị cáo tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện, để răn đe giáo dục bị cáo và đảm bảo việc phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời tuyên truyền trong quần chúng nhân dân về trách nhiệm bảo vệ rừng. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại gần hết cho Nguyên đơn dân sự số tiền 21.700.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0000189 ngày 04/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, và có bố đẻ là ông Vi Văn T tham gia dân quân hỏa tuyến phục vụ công cuộc kháng chiến được công nhận, nên xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính đang chăm sóc mẹ già yếu thường xuyên ốm đau, nhận thức về quy định của pháp luật về rừng sản xuất còn hạn chế, mục đích chặt phá rừng để trồng cây keo phát triển kinh tế gia đình, việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là chưa cần thiết, vì vậy cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo, giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Hình hạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc gia đình Cận nghèo, không có tài sản và không có thu nhập ổn định. Vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Nghệ An yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về số tiền 21.780.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng). Bị cáo đồng ý và đã tự nguyện bồi thường một phần số tiền 21.700.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0000189 ngày 04/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông. Vì vậy cần buộc bị cáo tiếp tục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho nguyên đơn dân sự số tiền 80.000 đ (Tám mươi nghìn đồng).
[6] Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị T2 là vợ bị cáo Vi Văn H được Nhà nước giao số diện tích bị hủy hoại như trên để bảo vệ và quản lý. Tuy nhiên việc bị cáo Vi Văn H thực hiện hành vi chặt phá bà T5 không biết và không liên quan đến hành vi thực hiện nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[7]. Về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và cá nhân trong quản lý, bảo vệ rừng: Hạt Kiểm lâm Con Cuông và Ủy ban nhân dân xã B và ông Lê Tuấn S là Kiểm lâm viên – Hạt kiểm lâm huyện C là các cơ quan Nhà nước và cá nhân có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn quản lý. Hạt kiểm Lâm và Ủy Ban nhân dân các xã và kiểm lâm viên đã có sự phối hợp, thường xuyên thực hiện việc tuần tra, kiểm tra, tuyên truyền để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm. Tuy nhiên do đặc thù khách quan về địa bàn có diện tích rừng lớn, địa hình hiểm trở, chia cắt, điều kiện thời tiết khí hậu; cũng như số lượng cán bộ trực tiếp làm công tác còn mỏng do đó, chưa thể đảm bảo phòng ngừa hoàn toàn hành vi vi phạm, cũng như chưa phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm. Do đó, không có căn cứ để xử lý họ về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điều 360 Bộ luật Hình sự là đúng quy định.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 (một) máy cưa cầm tay nhãn hiệu KYORITSU ECHO, vỏ máy bằng nhựa màu cam – đen; lưỡi cưa bằng kim loại, dài 48cm, phần lưỡi sắc của cưa được gắn 01 dây xích kim loại dài 112cm. Máy đã qua sử dụng; 01 (một) con dao (dạng dao thái) dài 46cm; phần lưỡi dao bằng kim loại, lưỡi sắc, đầu không nhọn, đã bị rỉ sét, dài 27cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6cm, nơi hẹp nhất 3cm; cán dao làm bằng gỗ hình trụ tròn dài 21cm, đường kính 3cm đây là toàn bộ dụng cụ bị cáo sử dụng để chặt, phát rừng nên cần tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước và tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thuộc gia đình hộ Cận nghèo, đã có đơn xin miễn tiền án phí nên xét thấy cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Văn H: 03 (Ba) năm tù về tội “Hủy hoại rừng” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18/6/2025).
Giao bị cáo Vi Văn H cho Công an xã B giám sát và Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo theo quy định tại Điều 94 của Luật thi hành án hình sự và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Vi Văn H phải bồi thường cho Nguyên đơn dân sự UBND huyện C số tiền 21.780.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 21.700.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0000189 ngày 04/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông mà bị cáo tự nguyện giao nộp, bị cáo Vi Văn H phải tiếp tục bồi thường số tiền 80.000 đ (Tám mươi nghìn đồng).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) máy cưa cầm tay nhãn hiệu KYORITSU ECHO, vỏ máy bằng nhựa màu cam – đen; lưỡi cưa bằng kim loại, dài 48cm, phần lưỡi sắc của cưa được gắn 01 dây xích kim loại dài 112cm. Máy đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao (dạng dao thái) dài 46cm; phần lưỡi dao bằng kim loại, lưỡi sắc, đầu không nhọn, đã bị rỉ sét, dài 27cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6cm, nơi hẹp nhất 3cm; cán dao làm bằng gỗ hình trụ tròn dài 21cm, đường kính 3cm. Dao đã qua sử dụng.
(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 30 ngày 13/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn H.
- Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN về hủy hoại rừng (criminal case)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Hai - Hủy hoại rừng
