|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: /2025/HNGĐ-ST |
Ngày 30 - 5 - 2025 |
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH P
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai L
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L
Ông Lê Thiết H
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh N – Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh P
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa: Đinh Phương M - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2025/TLST-HNGĐ ngày 26/02/2025 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21a/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 25/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12a/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L - sinh năm 1994.
Trú tại: K, thị trấn B, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
Bị đơn: Anh Dương Thanh T - sinh năm 1990
Trú tại: Khu E, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
(Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày:
Chị tự nguyện kết hôn với anh Dương Thanh T vào ngày 25/2/2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã C là xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Sau đó, chị và con đã xuống Hà Nội sinh sống và làm việc. Vợ chồng sống ly thân kể từ đó đến nay, chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng. Nay xác định không còn tình cảm nên chị xin ly hôn với anh Dương Thanh T.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Dương Quế C, sinh ngày 06/6/2014. Hiện nay cháu C đang ở cùng với chị. Ly hôn, chị xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết, bị đơn là anh Dương Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt. Quá trình làm việc và xác minh tại Ủy ban nhân dân xã X đều thể hiện tình trạng hôn nhân như chị L trình bày. Năm 2016 chị L và con đã đi nơi khác sinh sống và làm việc, vợ chồng sống ly thân kể từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Anh T hiện đi làm ăn nhưng vẫn thường xuyên về nhà, các giấy tờ văn bản Tòa án gửi về anh T không có ở nhà, gia đình anh T không ai nhận thay.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, xác định:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Dương Thanh T.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Dương Quế C, sinh ngày 06/6/2014 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị H.
- - Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Không giải quyết
- - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn là Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Dương Thanh T - cư trú tại khu E, xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T tiếp tục vắng mặt, không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do vậy, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L kết hôn với anh Dương Thanh T năm 2014 là hôn nhân hợp pháp bởi lẽ anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã C là xã X, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Hai bên chung sống hòa thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không còn quan tâm, yêu thương nhau. Hai bên đã sống ly thân từ đầu năm 2016 đến nay, không có trách nhiệm với nhau. Xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương cho thấy tình trạng hôn nhân của anh chị hiện đã rạn nứt, mỗi người một nơi, không còn đời sống chung.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị L xin ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là cháu Dương Quế C, sinh ngày 06/6/2014. Từ khi vợ chồng ly thân, chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C, vẫn đảm bảo cho cháu C được sinh hoạt, ăn học ổn định và nguyện vọng của cháu C khi chị L và anh T ly hôn là được ở cùng chị L. Do vậy, để đảm bảo tránh làm xáo trộn cuộc sống cho cháu, cần giao cháu C cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu là hợp lý và phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử :
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Dương Thanh T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dương Quế C, sinh ngày 06/6/2014. Anh Dương Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị L. Anh chị đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Không giải quyết
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số 0003218 ngày 26/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa. Chị L đã nộp đủ án phí.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án, hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mai L |
Bản án số /2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: /2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/c HNGĐ
