Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHI LỘC

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 22-5-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Trần Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Vinh và ông Lê Quang Hòa

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Xuân Giáp - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại điểm cầu trụ Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc X; sinh ngày: 06/11/1993, tại: huyện A, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc N (đã chết) và bà Đặng Thị L; vợ; con: Chưa; Tiền sự: Không.

Tiền án:

  • - Tại bản án số 147 ngày 18/8/2015, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đã chấp hành xong bản án vào ngày 28/4/2017.
  • - Tại bản án số 77 ngày 25/10/2017, Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản đã chấp hành xong bản án vào ngày 12/11/2018.
  • - Tại bản án số 18 ngày 18/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản đã chấp hành xong bản án ngày 04/3/2023.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2024 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

Đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An (mẹ đẻ). Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Hà P sinh năm 1994 – Luật sư- Văn phòng luật sư Nguyễn Tất T, thuộc đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Nguyễn Bá T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • +Anh Đặng Hữu N1, sinh năm 1987; Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 28/5/2024, Trần Ngọc X điều khiển xe máy biển kiểm soát 37M1 214-86 đi từ nhà tại huyện A xuống huyện N để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực xóm I, xã N, huyện N. Xiêm nhìn thấy nhà anh Nguyễn Bá T1 có treo một chiếc lồng bên trong có một con chim chào mào, quan sát một lúc thấy không có ai ở nhà nên X dừng xe ngoài cổng rồi đi bộ vào trong sân dùng tay lấy trộm lồng chim. Sau khi lấy trộm được tài sản tại nhà anh T1, X tiếp tục điều khiển xe máy đến khu vực xóm T, xã N, trên đường đi Xiêm phát hiện nhà anh Đặng Hữu N1 trú tại xóm T có treo một chiếc lồng bên trong có một con chim chào mào. Quan sát thấy không có người ở nhà nên X dừng xe ngoài cổng rồi đi bộ vào trong sân lấy trộm lồng và chim sau đó X điều khiển xe máy đi về nhà mình cất giấu.

Đến ngày 03/6/2024, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Trần Ngọc X đã đến Công an huyện N đầu thú.

Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL.ĐG ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện N kết luận:

  • - Một lồng chim hình hộp chữ nhật làm bằng gỗ có kích thước (43x36x36) cm có giá trị là 3.000.000đ (Ba triệu đồng), bên trong có một con chim chào mào có giá trị 5.000.000đ (năm triệu đồng) tổng cộng là 8.000.000đ (Tám triệu đồng).
  • - Một lồng chim hình hộp chữ nhật làm bằng gỗ có kích thước (45x35x35) cm có giá trị là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), bên trong có một con chim chào mào có giá trị 6.500.000₫ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) tổng cộng là 10.500.000₫ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản Trần Ngọc X trộm cắp của anh Nguyễn Bá T1 và anh Đặng Hữu N1 là 18.500.000đ (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra xét thấy bị can Trần Ngọc X có biểu hiện nhận thức không bình thường ảnh hưởng đến khả năng điều khiển hành vi nên Cơ quan điều tra Công an huyện N đã trưng cầu giám định pháp y về tâm thần.

Tại kết luận giám định số 65/KLGĐ ngày 10/02/2025 của Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền T kết luận:

  • + Trước, trong, sau thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 28/5/2024), Trần Ngọc X bị bệnh rối loạn nhân cách thực tổn, kèm theo nhiễm HIV, theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là : B24/F07.0 (biến đổi nhân cách mức độ vừa).
  • + Tại các thời điểm nêu trên, bị can Trần Ngọc X hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Ngọc X và đã thu giữ:

  • - 29 (hai mươi chín) lồng và chim trong đó có:
    • + Một lồng chim hình hộp chữ nhật làm bằng gỗ có kích thước (43x36x36)cm qua nhận dạng đặc điểm anh Nguyễn Bá T1 xác nhận là lồng và chim là tài sản của mình.
    • + Một lồng chim hình hộp chữ nhật làm bằng gỗ có kích thước (45x35x35)cm qua nhận dạng đặc điểm anh Đặng Hữu N1 xác nhận lồng và chim là tài sản của mình.
  • Số còn lại Cơ quan điều tra Công an huyện N đã thông báo truy tìm vật chứng số 1682 ngày 06/8/2024 nhưng đến nay không xác định được bị hại, đồng thời Trần Ngọc X khai nhận số chim nói trên là do X mua về để nuôi và sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 37M1 - 214.86, số máy JA38E0237558, số khung 3811GY114410 xe đã qua sử dụng qua xác minh chiếc xe máy nói trên là của chị Trần Thị N2 sinh năm 1988 (là chị gái của X) để xe ở nhà cho mẹ là bà Đặng Thị L sử dụng việc X mượn xe đi chơi bà L không biết nên Cơ quan điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu.

- Trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, các bị hại là anh Nguyễn Bá T1 và anh Đặng Hữu N1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không yêu cầu đền bù gì thêm.

Cáo trạng số: 19/CT-VKS-NL ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc đã truy tố bị cáo Trần Ngọc X về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173, điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Trần Ngọc X mức án từ 24 đến 30 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đã được xử lý trong quá trình điều tra nên đề nghị miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo nên đề nghị miễn xét.

Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất nội dung lời khai cảu bị cáo, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân, khả năng nhận thức của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất cho bị cáo.
  • Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm bào chữa: Bị cáo Trần Ngọc X bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội nên không có ý kiến tranh luận gì về tội danh. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được sai trái nên đã đi đầu thú tại Công an huyện N và phối hợp cùng cơ quan điều tra trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho các bị hại; Các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ và ông nội là những người có công với Nhà nước, được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý. Đây là nhưng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt để giảm nhẹ mức án cho bị cáo đến mức thấp nhất, để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, xã hội.

Bị cáo, đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không tranh luận gì. Bị cáo có lời nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất ăn năn, hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo và các bị hại đều không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Ngọc X khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 28/5/2024, tại địa bàn huyện N, tỉnh Nghệ An, Trần Ngọc X đã có hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Bá T1 trú tại xóm I, xã N một con chim chào mào và một lồng chim trị giá 8.000.000đ (Tám triệu đồng) và có hành vi trộm cắp tài sản của anh Đặng Hữu N1 trú tại xóm T, xã N một con chim chào mào và một lồng chim trị giá 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản Trần Ngọc X chiếm đoạt là 18.500.000₫ (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng)

Như vậy, hành vi lợi dùng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút đột nhập vào nhà các bị hại là Nguyễn Bá T1 và Đặng Hữu N1 để chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị là 18.500.000₫ (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) của Trần Ngọc X đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của các bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Trần Ngọc X đang có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù chưa được bao lâu, nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân mà còn cố tình thực hiện liên tiếp 02 hành vi trộm cắp tài sản với tổng trị giá 18.500.000 đồng, chứng tỏ bị cáo là đối tượng liều lĩnh, xem thường pháp luật. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tự giác ra đầu thú nhưng sau đó lại bỏ trốn và bị bắt theo. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Trần Ngọc X bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1, điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Bị cáo là người bị hạn hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Ngoài ra, bố đẻ của bị cáo là người có C và được Nhà nước trao tặng Huân chương chiến công hạng ba, ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì, hạng ba. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản thân bị bệnh, không có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành trả các tài sản thu giữ cho chủ sở hữu là đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm về dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1- Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc X 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: 31/10/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Ngọc X phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; đại diện hợp pháp;
  • -Người bào chữa cho bị cáo.
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nghi Lộc;
  • - Công an huyện;
  • - THA dân sự, THA hình sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Vân

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 22/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Xiêm đã có hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Bá T và của anh Đặng Hữu N có tổng giá trị 18.500.000đ (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger