Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16 - 4 - 2025

Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Siêng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Ngâm và ông Lương Văn Cang

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 31/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXX-ST ngày 02 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trương Uy T - sinh năm 1982; Địa chỉ: khu phố D, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.

Bị đơn: Trần Thị Mỹ T1 - sinh năm 1988; HKTT: P, xã H, thị xã Đ, Phú Yên. Địa chỉ: khu phố D, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn Trương Uy T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn ngày 17/6/2014, tại UBND phường P, thành phố T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do vấn đề kinh tế, lúc anh T làm có tiền thì êm xuôi, lúc tôi không có tiền thì vợ chồng kình cải, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, anh T yêu cầu giải quyết ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Như Q– sinh ngày 25/12/2014, Trương Minh Q1 – sinh ngày 20/9/2017 (hiện ở với anh chị). Anh T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trương Minh Q1 vì hiện tại cháu vẫn đang học tập, ăn ở nhà ông bà nội như vậy sẽ ổn định việc học tập của cháu, mặc khác ở với anh (nhà tại thành phố) thì cháu có đầy đủ điều kiện để phát triển hơn trong khi nhà ngoại (mẹ chị T1) chật chội, cũ kỹ; anh cũng đã đi làm, cũng có thu nhập ổn định để khả năng nuôi con. Quá trình nuôi dạy con anh có nghiêm khắc với con nhưng anh không phải người thô lỗ, cộc cằn. Do vậy, anh T đề nghị được nuôi dưỡng cháu Trương Minh Q1, chị T1 nuôi dưỡng Trương Thị Như Q không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn đã tự thỏa thuận giải quyết xong không yêu cầu giải quyết; tại văn bản thỏa thuận tài sản ly hôn ngày 27/01/2025 thể hiện sau khi có quyết định ly hôn chị T1 phải dọn ra khỏi nhà, tuy nhiên, hiện tại 02 con chung đang thi học kỳ 2 năm học 2024-2025, cần thời gian để học tập thi cử ổn định. Do đó, thống nhất đến ngày 01/6/2025 chị T1 và các con sẽ về nhà cha mẹ đẻ chị T1 như thỏa thuận tại văn bản thỏa thuận tài sản ly hôn ngày 27/01/2025, trong thời gian từ nay đến khi ra khỏi nhà chị T1 không được kiếm cớ gây sự, quấy rối, khiêu khích, nếu có việc này yêu cầu chị T1 dọn ra khỏi nhà ngay.

Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn Trần Thị Mỹ T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh T, chị T1 tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn ngày 17/6/2014, tại UBND phường P, thành phố T. C sống hạnh phúc một thời gian, khi chị T1 sinh con thứ 2, anh Trình tự ý N làm trong khi kinh tế vợ chồng còn nhiều khó khăn, chị T1 phải một mình lo toan chi phí sinh hoạt trong gia đình, trả nợ xây nhà... mâu thuẫn vợ chồng từ đó trầm trọng hơn, cả hai không hòa hợp về cách sống, cách nuôi dạy con, để ổn định cuộc sống chị T1 thống nhất ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung tên Trương Thị Như Q – sinh ngày 25/12/2014, Trương Minh Q1 – sinh ngày 20/9/2017 (hiện ở với anh chị). Chị T1 yêu cầu được nuôi 02 con chung; anh Trương Uy T cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng/02 cháu (mỗi cháu 1.500.000đ/tháng), từ tháng 06/2025 đến khi phát sinh một trong các trường hợp quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình.

Việc chị T1 và các con về nhà cha mẹ ở chỉ là tạm thời, trong thời gian này chị T1 sẽ xây dựng nhà ổn định cho 03 mẹ con, nhà ngoại không đến nổi cũ nát như anh T trình bày, mặc khác chị có công việc ổn định hơn anh T, anh làm việc theo ca, mọi việc đều giao cho nội chăm sóc; quá trình chung sống anh T là người thô lỗ có những lời lẽ chửi mắng, đánh con, không biết cách nuôi dạy con, chị là mẹ chăm sóc con vẫn tốt hơn. Do vậy không chấp nhận yêu cầu nuôi cháu Q1 của anh T.

Về tài sản chung, nợ chung: anh chị đã tự thỏa thuận giải quyết xong không yêu cầu giải quyết; tại văn bản thỏa thuận tài sản ly hôn ngày 27/01/2025 thể hiện sau khi có quyết định ly hôn chị T1 phải dọn ra khỏi nhà, tuy nhiên, hiện tại 02 con chung đang thi học kỳ 2 năm học 2024-2025, cần thời gian để học tập thi cử ổn định. Do đó, đến ngày 01/6/2025 chị T1 và các con sẽ về nhà cha mẹ đẻ chị T1 như thỏa thuận tại văn bản thỏa thuận tài sản ly hôn ngày 27/01/2025.

Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã hòa giải đoàn tụ nhưng không thành.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng anh T giữ nguyên yêu cầu ly hôn, về con chung: mặc dù anh mới tìm công việc khác nhưng anh đảm bảo đủ khả năng nuôi dạy hai con do vậy anh yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con; nếu chị T1 nuôi con và có yêu cầu cấp dưỡng thì anh T chấp nhận cấp dưỡng theo yêu cầu; về tài sản chung: đã tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn trình bày mâu thuẫn vợ chồng khó mà hàn gắn lại được do vậy chấp nhận ly hôn; anh T không có công việc ổn định, việc chăm sóc con không thể được như mẹ do vậy yêu cầu giao 02 con chung cho chị T1 nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng 3.000.000đ/tháng/02 cháu (mỗi cháu 1.500.000đ/tháng) từ tháng 06/2025 đến khi trưởng thành; Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Các cháu Trương Thị Như Q – sinh ngày 25/12/2014 và Trương Minh Q1 – sinh ngày 20/9/2017 trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ vì mẹ thương yêu, chăm sóc tốt cho các cháu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Bị đơn hiện cư trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên, nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Trương Uy T và chị Trần Thị Mỹ T1 tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 50, ngày 17 tháng 6 năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến nay anh chị mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau, anh T, chị T1 thống nhất ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh T, chị T1 đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trương Uy T và chị Trần Thị Mỹ T1.

[2.2] Về con chung: anh Trương Uy T và chị Trần Thị Mỹ T1 đều thừa nhận có 02 con chung là Trương Thị Như Q – sinh ngày 25/12/2014, Trương Minh Q1 – sinh ngày 20/9/2017. Tại phiên hòa giải ngày 12/3/2025 nguyên đơn và bị đơn thống nhất giao 02 con chung Trương Thị Như Q, Trương Minh Q1 cho chị T1 nuôi dưỡng, anh T cấp dưỡng 3.000.000đ/02 cháu/tháng (mỗi cháu 1.500.000đ/tháng), từ tháng 6/2025 đến khi phát sinh một trong các trường hợp quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình. Tuy nhiên, ngày 14/3/2025 ANH T có đơn xin thay đổi ý kiến và tại phiên tòa, anh T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung, không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T1 đề nghị giữ nguyên yêu cầu như biên bản hòa giải ngày 12/3/2025.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Xét về điều kiện và khả năng nuôi con của hai anh chị là như nhau. Từ khi sinh ra cho đến nay các con của anh chị đều sống cùng bố mẹ tại phường P, thành phố T. Tuy nhiên, lâu nay các con đều do chị T1 chăm sóc, quá trình giải quyết vụ án, và tại tòa, cháu Q và cháu Q1 đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, để bảo vệ quyền lợi của các con và để ổn định cuộc sống, tâm lý của các con sau khi ly hôn, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Trương Thị Như Q và cháu Trương Minh Q1 cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

[2.3] Về mức cấp dưỡng nuôi con: chị T1 yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đ/tháng/cháu (3.000.000đ/tháng/02 cháu) từ tháng 06/2025 là phù hợp với quy định tại Điều 82, 83, 110 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình nên chấp nhận.

[2.4] Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét

[2.5] Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng định kỳ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, anh Trương Uy T được ly hôn với chị Trần Thị Mỹ T1.
  2. Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Như Q – sinh ngày 25/12/2014, Trương Minh Q1 – sinh ngày 20/9/2017. Giao chị Trần Thị Mỹ T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Trương Thị Như Q, Trương Minh Q1. Anh Trương Uy T cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đ/tháng/cháu (3.000.000đ/tháng/02 cháu) kể từ tháng 06/2025 đến khi phát sinh một trong các điều kiện quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.

    Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Trương Uy T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng định kỳ, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005798, ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa. Nên anh Trương Uy T còn phải nộp 300.000 đồng.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
  6. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
  • - UBND Phường Phú Thạnh, TP. Tuy Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

 

Phan Thị Lệ Siêng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận ly hôn, giải quyết con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger