|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HSST. Ngày 15/4/2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL. TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Dầu và bà Hoàng Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Là Thư ký viên TAND huyện Đắk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 15/4/2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 20/03/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 02/4/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm 1990 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký HKTT và trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; số CCCD: [...]; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Lê Hồng T, sinh năm 1960 và con bà Hà Thị Xuân Đ, sinh năm 1965, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vợ Trương Lưu Mộng N, sinh năm 1995 (đã ly hôn), bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HSST, ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã tuyên phạt bị cáo Lê Văn H 01 (Một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/3/2024; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2011/HSST, ngày 11/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội Cướp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS. (đã được xoá án
tích); bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/01/2025, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt.
- Bị hại: Ông Vương Đình A, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971; địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; có mặt.
- Bà Hà Thị Xuân Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đinh Danh N1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1992; địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Anh Phạm Quốc T1, sinh năm 2000; địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 15/01/2025, Lê Văn H điều khiển xe mô tô biển số 48E1 - 407.26 (xe mượn của bà Hà Thị Xuân Đ, sinh năm 1965, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, là mẹ của H) đi từ nhà đến thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang qua bãi đất trống phát hiện có một số bạt cà phê của ông Vương Đình A đã xay dập và đang phơi nhưng không có người trông coi nên H nhặt 01 cái bao (loại bao xác rắn màu xanh) rồi dùng tay dồn cà phê vào bao. Sau khi dồn đầy bao, H khiêng bao cà phê để trên gác baga phía trước của xe rồi điều khiển xe chở đến đại lý thu mua nông sản Cảnh H3 do bà Nguyễn Thị H1 làm chủ nhờ máy xay được 20,6 kg cà phê nhân rồi bán cho bà H1 được 2.185.000 đồng, H đã tiêu xài cá nhân hết 585.000 đồng. Ngày 17/01/2025, Lê Văn H đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đầu thú và giao nộp số tiền 1.600.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng đã thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 48E1 - 407.26; 20,6 kg cà phê nhân; số tiền 1.600.000 đồng; 01 áo khoác gió màu bạc, có mũ (vành mũ có màu vàng) và 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nón sơn màu trắng. Đối với 01 cái bao xác rắn màu xanh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã áp dụng các biện pháp truy tìm nhưng không thu giữ được.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS, ngày 20/01/2025 của Hội đồng Định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kết luận 20,6 kg cà phê nhân, có giá trị là 2.369.000 đồng.
Bản cáo trạng số 27/CT-VKS(ĐM) ngày 19/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H tội “Trộm cắp tài sản”;
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 12 đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình (BLTTHS) sự đề nghị:
+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 1.600.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 48E1 - 407.26; 01 áo khoác gió màu bạc có mũ (vành mũ có màu vàng); 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nón sơn màu trắng và 20,6 kg cà phê nhân, cho các chủ sở hữu hợp pháp.
+ Đối với 01 cái bao xác rắn màu xanh do không thu giữ được nên không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.600.000 đồng để bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 và bà H1 không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường; bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề nghị giải quyết.
Tại phiên tòa bị cáo cho rằng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đề nghị xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Tòa án xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận định giá, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 09 giờ ngày 15/01/2025, tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Lê Văn H đã lén lút trộm cắp của ông Vương Đình A 20,6 kg cà phê nhân, có giá trị là 2.369.000 đồng. Hành vi của Lê Văn H đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Khoản 1 Điều 173 của BLHS sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3] Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là công dân có nhận thức pháp luật để biết được quyền tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, nhưng vì lười lao động muốn có
tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lén lút đối với chủ sở hữu là ông Vương Đình A chiếm đoạt 20.6 kg cà phê nhân xô trị giá 2.369.000 đồng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền tài sản của người khác, mà còn gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, mất an ninh trật tự tại địa phương. Mặt khác, bị cáo đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, vừa chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/3/2024, từng bị xét xử 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội Cướp tài sản, đã được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường tài sản của người khác. Do đó, cần buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục, răn đe bị cáo để bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi liên quan. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của của bị cáo, HĐXX thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như vậy mới bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[7] Bà Nguyễn Thị H1 đã mua 20.6 kg cà phê của bị cáo nhưng không biết tài sản là do bị cáo phạm tội mà có; bà Hà Thị Xuân Đ cho bị cáo mượn xe mô tô nhưng không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, bị cáo hiện một mình nuôi hai con nhỏ. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của BLHS; khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô biển số 48E1 - 407.26; 01 áo khoác gió màu bạc có mũ (vành mũ có màu vàng); 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nón sơn màu trắng cho bà Hà Thị Xuân Đ và và 20,6 kg cà
phê nhân cho ông Vương Đình A là chủ sở hữu hợp pháp. Đối với số tiền 1.600.000 đồng do bị cáo Lê Văn H phạm tội mà có nhưng Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bà Hà Thị Xuân Đ là không phù hợp mà lẽ ra phải trả lại cho bà Nguyễn Thị H1. Tuy nhiên, bà Hà Thị Xuân Đ đã thay mặt bị cáo trả lại cho bà H1 số tiền 2.190.000 đồng nên HĐXX chấp nhận.
+ Đối với 01 bao xác rắn màu xanh do không thu giữ được nên chấp nhận không đề cập xử lý.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 2.190.000 đồng. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên HĐXX không xem xét.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[12] Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 17/01/2025).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của BLHS; khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 1.600.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 48E1 - 407.26; 01 áo khoác gió màu bạc có mũ (vành mũ có màu vàng); 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại nón sơn màu trắng và 20,6 kg cà phê nhân cho các chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 2.190.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình
trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Trúc Linh |
Nơi nhận:
|
Bản án số 29/2025/HSST. ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL. TỈNH ĐẮK NÔNG. về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 29/2025/HSST.
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL. TỈNH ĐẮK NÔNG.
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 09 giờ ngày 15/01/2025, Lê Văn Hiến điều khiển xe mô tô biển số 48E1 - 407.26 (xe mượn của bà Hà Thị Xuân Đình, sinh năm 1965, trú tại thôn Đức Phúc, xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, là mẹ của Hiến) đi từ nhà đến thôn Đức Lễ A, xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang qua bãi đất trống phát hiện có một số bạt cà phê của ông Vương Đình An đã xay dập và đang phơi nhưng không có người trông coi nên Hiến nhặt 01 cái bao (loại bao xác rắn màu xanh) rồi dùng tay dồn cà phê vào bao. Sau khi dồn đầy bao, Hiến khiêng bao cà phê để trên gác baga phía trước của xe rồi điều khiển xe chở đến đại lý thu mua nông sản Cảnh Hướng do bà Nguyễn Thị Hướng làm chủ nhờ máy xay được 20,6 kg cà phê nhân rồi bán cho bà Hướng được 2.185.000 đồng, Hiến đã tiêu xài cá nhân hết 585.000 đồng. Ngày 17/01/2025, Lê Văn Hiến đến Công an xã Đức Mạnh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đầu thú và giao nộp số tiền 1.600.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn Hiến đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
