Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE


Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/4/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,

chia tài sản chung và nợ chung".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Hổ.
  2. Bà Nguyễn Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 250/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2025. Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mỹ T, sinh năm: 1991 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền về tranh chấp tài sản: Ông Ngô Nhật T1, sinh năm 1995; ông Trần Quang K, sinh năm 1996;

Địa chỉ liên hệ: A, đường số C, khu dân cư S, khu phố M, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Lý C, sinh năm: 1988 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số C, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Nơi ở hiện nay: Số F, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ngân hàng T2 – chi nhánh B1 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số C đường C, Phường C (nay là phường A), thành phố B, tỉnh Bến Tre.

+ Ông Huỳnh Văn K1, sinh năm 1960 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số C, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

+ Ông Dương Minh B, sinh năm 1968 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 23/3/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ T trình bày: Bà T và ông C do tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2020, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B vào ngày 23/11/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc khoảng thời gian đầu nhưng thời gian sau đó năm 2022 đã phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông C có quan hệ với người phụ nữ khác, thường bỏ nhà đi, không quan tâm đến vợ con. Từ đó, vợ chồng hay cãi vã, nhiều lần xô xát nhau. Ông C có nhiều lần cam kết, gia đình hai bên có khuyên can nhưng ông C vẫn không thay đổi. Nay do tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông C để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà T và ông C có 01 con chung là Huỳnh Dương Mỹ N, sinh ngày 18/3/2022, hiện đang sống với bà T, Sau ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng, phương thức: cấp dưỡng một lần với số tiền tạm tính là 407.733.332 đồng.

Về tài sản riêng: ghi nhận thửa đất số 123 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre là tài sản riêng của bà T.

Về tài sản chung: Căn nhà cấp 4, diện tích 70m², xây dựng năm 2021 tại địa chỉ F, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre có giá trị khoảng 300.000.000 đồng được xây dựng trên thửa đất số 123 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường P, thành phố B; xe ô tô 4 chỗ, hiệu Vios, mua tháng 01/2022, biển số đăng ký: 71A-123.85 do ông Huỳnh Lý C đứng tên, trị giá xe ô tô là 400.000.000 đồng. Bà T yêu cầu được sử dụng nhà và đồng ý trả lại cho ông C ½ giá trị căn nhà là 150.000.000 đồng. Bà Tiên đồng Ý giao xe ô tô cho ông C sử dụng, ông C phải trả lại cho bà T ½ giá trị xe ô tô là 400.000.000 đồng.

Về nợ chung: Bà T và ông C có vay của cha ruột bà T là ông Dương Minh B số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm để xây nhà. Bà T đã trả cho ông B số nợ gốc là 50.00.000 đồng và 20.000.000 đồng tiền lãi.

Tại đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 14/8/2023 bà T xin rút lại yêu cầu chia nợ chung số tiền 200.000.000 đồng đã vay của ông Dương Minh B.

Tại đơn đề nghị đề ngày 13/02/2025 bà T trình bày: Bà T xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung là Căn nhà cấp 4, diện tích 70m², xây dựng năm 2021 tại địa chỉ F, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre có giá trị khoảng 300.000.000 đồng được xây dựng trên thửa đất số 123 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường P, thành phố B;

xe ô tô 4 chỗ, hiệu Vios, mua tháng 01/2022, biển số đăng ký: 71A-123.85 do ông Huỳnh Lý C đứng tên, trị giá xe ô tô là 400.000.000 đồng. Bà T giữ yêu cầu ly hôn với ông C, yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng, phương thức: cấp dưỡng một lần với số tiền tạm tính là 407.733.332 đồng.

Tại đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 14/3/2025 bà T trình bày: Bà yêu cầu được ly hôn với ông C; Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; về tài sản chung tự thỏa thuận; về nợ chung: không có; về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng: không có.

Do bận công việc nên bà T xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại bản tự khai đề ngày 04/5/2023, bị đơn là ông Huỳnh Lý C trình bày: ông C và bà T kết hôn đã được 3 năm, ông bà có 01 con chung là Huỳnh Dương Mỹ N, sinh ngày 18/3/2022. Vợ chồng mới cưới, con còn nhỏ nên ông C phải đi làm lo cho cuộc sống gia đình. Môi trường làm việc có tính chất đi nhiều, thường xuyên gặp gỡ khách hàng và có nhiều bạn bè làm ăn nên bà T hiểu nhầm. Do cháu N còn nhỏ và ông vẫn còn có tình cảm với bà T nên ông không đồng ý ly hôn.

Về tài sản chung: Thửa đất số 126 tờ bản đồ số 6 có diện tích 99,3m² tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre và căn nhà cấp 4 diện tích 70m2 xây trên đất; xe ô tô 4 chỗ, hiệu Vios, mua tháng 01/2022, biển số đăng ký: 71A-123.85 do ông Huỳnh Lý C đứng tên. Có một số tài sản chung nhưng do hàn gắn gia đình nên ông C chưa đề cập đến.

Về nợ chung: Vợ chồng có nợ cha ruột bà T là ông Dương Minh B số tiền 200.000.000 đồng. Có một số nợ chung nhưng do muốn hàn gắn gia đình nên ông chưa đề cập đến.

Tại biên bản làm việc ngày 22/8/2023 ông Huỳnh Lý C trình bày: Ông không đồng ý ly hôn do muốn hàn gắn tình cảm để cùng lo cho con. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T thì ông yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Nếu Tòa án giao con cho bà T nuôi dưỡng thì ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng. Vợ chồng ông có nợ chung của ông Dương Minh B 200.000.000 đồng và có nợ của cha ruột ông là ông Huỳnh Văn K1 50.000.000 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng T2 - chi nhánh B1 trình bày: Thửa đất số 126 tờ bản đồ số 6 có diện tích 99,3m² tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre đang được thế chấp tại Ngân hàng. Do bà T đã rút yêu cầu chia tài sản là thửa đất số 126 tờ bản đồ số 6 có diện tích 99,3m² tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất nên Ngân hàng không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Ngân hàng xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm và các cấp khác nếu có.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Dương Minh B trình bày: Ông B, bà T và ông C đã tự thỏa thuận với nhau về yêu cầu giải quyết số tiền nợ

chung mà bà T và ông C đã nợ ông B là 200.000.000 đồng. Do đó, ông Bằng K2 yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Tại phiên tòa:

Bị đơn ông Huỳnh Lý C vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn K1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; riêng bị đơn là ông Huỳnh Lý C và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn K1 chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ các Điều 33,56,59,81,82,83,84 Luật HN&GĐ; NQ 326/30.12.2016 hướng dẫn luật phí và lệ phí: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Mỹ T; cụ thể: Về hôn nhân: chị Dương Thị Mỹ T được ly hôn với anh Huỳnh Lý C; Về con chung: có một người con chung tên Huỳnh Dương Mỹ N, sinh ngày 18/3/2022. Sau khi ly hôn chị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật; Về tài sản chung: do chị T có yêu cầu xin rút đối với yêu cầu chia tài sản chung nên đề nghị xem xét đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung; Về nợ chung: không xem xét giải quyết trong vụ án này. Tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Dương Thị Mỹ T khởi kiện ông Huỳnh Lý C yêu cầu ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và nợ chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Huỳnh Lý C là bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng:

Nguyên đơn là bà Dương Thị Mỹ T, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về tài sản là ông Ngô Nhật T1, ông Trần Quang K và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng T2 – chi nhánh B1 có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn là ông Huỳnh Lý C, người liên quan là ông Huỳnh Văn K1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét

xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Dương Thị Mỹ T và ông Huỳnh Lý C trên cơ sở quen biết nhau trước nên cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B vào ngày 23/11/2020. Xét thấy, hôn nhân của bà T và ông C đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc khoảng thời gian đầu nhưng thời gian sau đó năm 2022 đã phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà T cho rằng nguyên nhân là do ông C có quan hệ với người phụ nữ khác, thường bỏ nhà đi, không quan tâm đến vợ con. Từ đó, vợ chồng hay cãi vã, nhiều lần xô xát nhau. Ông C có nhiều lần cam kết, gia đình hai bên có khuyên can nhưng ông C vẫn không thay đổi. Ông C cho rằng vợ chồng mới cưới, con còn nhỏ nên ông C phải đi làm lo cho cuộc sống gia đình. Môi trường làm việc có tính chất đi nhiều, thường xuyên gặp gỡ khách hàng và có nhiều bạn bè làm ăn nên bà T hiểu nhầm. Do cháu N còn nhỏ và ông vẫn còn có tình cảm với bà T nên ông không đồng ý ly hôn. Ngày 01/02/2023 ông C có viết “Bản cam kết không tái phạm”. Bà T cho rằng ông C có nhiều lần cam kết, gia đình hai bên có khuyên can nhưng ông C vẫn không thay đổi. Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mời bà T và ông C đến Tòa án nhiều lần để tiến hành hòa giải hôn nhân của ông bà nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ ông C không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng với bà T. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: bà T và ông C là vợ chồng nhưng ông bà không quan tâm, giúp đỡ nhau để tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt mà ông bà lại bỏ mặc nhau và sống ly thân nên ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp.

[3.2] Về con chung: Bà T và ông C có 01 con chung là Huỳnh Dương Mỹ N, sinh ngày 18/3/2022. Sau ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông C không đồng ý ly hôn do muốn hàn gắn tình cảm để cùng lo cho con. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T thì ông yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng ông C vắng mặt không có lý do. Hiện nay, cháu N do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển tốt về thể chất, sự phát triển tốt về tinh thần cho cháu N nên Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà T được trực tiếp nuôi là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.3] Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà T, xét thấy: Bà T yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Ông C cho rằng nếu Tòa án giao con cho bà T nuôi dưỡng thì ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp

dưỡng cho con; Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác; Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên trong trường hợp không sống chung với con”, do đó ông C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu N là phù hợp. Về phương thức cấp dưỡng mà bà T yêu cầu cấp dưỡng định kỳ hàng tháng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về mức cấp dưỡng: theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”, đồng thời căn cứ theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh thu nhập trung bình mỗi tháng của ông C là bao nhiêu. Tại thời điểm xét xử thì tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng là ông C đang cư trú (thành phố B thuộc vùng II) là 4.410.000 đồng. Bà T yêu cầu ông C cấp dưỡng cho cháu N mỗi tháng 2.000.000 đồng là thấp hơn ½ mức lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú. Về thời gian cấp dưỡng mà bà T yêu cầu tính từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án vào tháng 3 năm 2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, Hội đồng xét xử xét thấy: căn cứ vào khoản 4 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” do đó bà T yêu cầu ông C cấp dưỡng cho các cháu N tính từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án vào tháng 3 năm 2023 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, số tiền cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng là phù hợp.

[3.4] Về tài sản chung: Bà T yêu cầu ghi nhận thửa đất số 123 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre là tài sản riêng của bà T; Yêu cầu chia tài sản bao gồm: Căn nhà cấp 4, diện tích 70m², xây dựng năm 2021 tại địa chỉ F, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre được xây dựng trên thửa đất số 123 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường P, thành phố B và xe ô tô 4 chỗ, hiệu Vios, mua tháng 01/2022, biển số đăng ký: 71A-123.85 do ông Huỳnh Lý C đứng tên. Tại đơn đề nghị đề ngày 13/02/2025 bà T rút lại yêu cầu chia tài sản chung, việc bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung là tự nguyện. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu này theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.5] Đối với khoản nợ của ông Dương Minh B số tiền 200.000.000 đồng đồng mà bà T có yêu cầu ông C có nghĩa vụ trả cho ông B, xét thấy: ông Dương Minh B không có yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ vay 200.000.000 đồng trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ông Dương Minh B được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ vay 200.000.000 đồng đối với bà T và ông C ở vụ án khác (nếu có yêu cầu).

[3.6] Đối với số tiền ông C cho rằng có vay của ông Huỳnh Văn K1 là 50.000.000 đồng, xét thấy: Ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập ông K1 nhiều lần nhưng ông K1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3.7] Tại Văn bản số 39/2025/VCBNEO-CNBTr ngày 24/02/2025 Ngân hàng T2 - chi nhánh B1 trình bày: Thửa đất số 126 tờ bản đồ số 6 có diện tích 99,3m² tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre đang được thế chấp tại Ngân hàng. Do bà T đã rút yêu cầu chia tài sản là thửa đất số 126 tờ bản đồ số 6 có diện tích 99,3m² tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất nên Ngân hàng không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Xét thấy: Ngân hàng T2 - chi nhánh B1 không có yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ vay trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Do đó, Ngân hàng T2 - chi nhánh B1 được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ở vụ án khác (nếu có yêu cầu).

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu do bà T yêu cầu ly hôn. Án phí cấp dưỡng: ông C phải chịu do ông C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá) là 3.214.000 đồng bà T phải chịu. Bà T đã rút yêu cầu khởi kiện về chia tài sản chung và đình chỉ vụ án nên bà T phải chịu chi phí thu thập chứng cứ là 3.214.000 đồng và đã thực hiện xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 165, 201, 217, 218, 227, 228, 244, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 59, 63, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ T đối với bị đơn ông Huỳnh Lý C về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cụ thể tuyên:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Mỹ T được ly hôn với ông Huỳnh Lý C.

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Dương Mỹ N, sinh ngày 18/3/2022 cho bà Dương Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng; ông Huỳnh Lý C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Dương Mỹ N mỗi tháng là 2.000.000 (hai triệu) đồng. Thời hạn cấp dưỡng: tính từ tháng 3 năm 2023 cho đến khi cháu Huỳnh Dương Mỹ N đủ 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng: mỗi tháng cấp một lần.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Huỳnh Lý C được quyền đến thăm chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

1.3. Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Dương Thị Mỹ T về việc yêu cầu chia thửa đất số 123 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Căn nhà cấp 4, diện tích 70m², xây dựng năm 2021 tại địa chỉ F, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre được xây dựng trên thửa đất số 123 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường P, thành phố B và xe ô tô 4 chỗ, hiệu Vios, mua tháng 01/2022, biển số đăng ký: 71A-123.85 do ông Huỳnh Lý C đứng tên.

1.4. Về nợ:

Ông Dương Minh B không có yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ vay 200.000.000 đồng trong vụ án này nên không xem xét giải quyết. Ông Dương Minh B được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ vay 200.000.000 đồng đối với bà T và ông C ở vụ án khác (nếu có yêu cầu).

Ngân hàng T2 - chi nhánh B1 không có yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ vay trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Do đó, Ngân hàng T2 - chi nhánh B1 được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ở vụ án khác (nếu có yêu cầu).

2. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Dương Thị Mỹ T phải nộp nhưng được khấu trừ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004092 ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bà Dương Thị Mỹ T đã thực hiện xong.

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre hoàn trả cho bà Dương Thị Mỹ T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng theo biên lai thu số 0004091 ngày 27/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Án phí cấp dưỡng: ông Huỳnh Lý C phải chịu 300.000 đồng.

3. Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá) là 3.214.050 (Ba triệu hai trăm mười bốn nghìn không trăm năm mươi) đồng bà T phải chịu. Ghi nhận bà T đã thực hiện xong.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA
  • TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND thành phố Bến Tre;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Tre;
  • - UBND thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (HS, VP).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

đã ký

Võ Thị Cẩm Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung

  • Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà T và ông C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger