|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HS-ST
Ngày 03/4/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm
Ông Lê Đăng Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 25/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025;
Đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Xuân L, sinh ngày 21/02/1999 tại: Phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Số B T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh N và bà Nguyễn Thị Đ; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Lê Thị Vân A; có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024 đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Xuân T, sinh ngày 18/01/2004, tại: Phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Số C T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng T1 và bà Trần Thị B; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024 đến nay. Có mặt.
3. Họ và tên: Vũ Anh T2, sinh ngày 03/7/2004 tại: Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hồng T3 và bà Đỗ Thị C; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con đầu; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024 đến nay. Có mặt.
4. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A1, sinh ngày 09/9/1987, tại: Phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Số G N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe taxi; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 (đã chết) và bà Ngô Thị D; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Trương Ngọc M, có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 13/3/2007, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, mức phạt 200.000 đ. Ngày 26/3/2007 bị cáo đã chấp hành nộp phạt.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Quách Công Đ1, sinh năm 1983, địa chỉ: Số H B, Phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Ông Vũ Hồng T3, sinh năm 1968, địa chỉ: Phố T, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Anh Phan Minh Đ2, sinh năm 2000, địa chỉ: Khu B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Trần Quốc H, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1962, địa chỉ: Khu phố X, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Chị Trần Thị B, sinh năm 1975, địa chỉ: Số C T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Anh Trần Thanh N, sinh năm 1973, địa chỉ: Số B T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 06/11/2024, tại khu phố A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn S, huyện T phát hiện bắt quả tang Vũ Anh T2 (sinh năm 2004, trú tại phố T, phường Đ, thành phố T) và Nguyễn Tuấn A1 (sinh năm 1987, trú tại số G N, phường P, thành phố T) đi trên xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, biển kiểm soát 36A-114.01 đang cất giấu một khẩu trang màu trắng bên trong có chứa hai túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, chứa chất tinh thể màu trắng và một túi nilon màu trắng viền xanh bên trong chứa hai viên nén hình tròn màu hồng và một viên nén hình dạng hộp chữ nhật màu xanh. Nơi phát hiện khẩu trang là trên tay của Vũ Anh T2. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các đồ vật, tài liệu sau:
- 01 (một) khẩu trang màu trắng được cuộn tròn, bên trong có ba túi nilon dạng túi Zíp trong đó có hai túi Zíp viền đỏ bên trong đều có chứa các hạt tinh thể màu trắng và một túi Zíp viền xanh bên trong có chứa hai viên nén hình tròn màu hồng và một viên nén hình hộp chữ nhật màu xanh được niêm phong trong phong bì màu nâu ký hiệu “Ma túy Vũ Anh T2”.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0982992841, điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu hồng, gắn thẻ sim số thuê bao 0327423462, điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi POCO F4 GT màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0934.552.345, điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, biển kiểm soát 36A – 114.01.
Vũ Anh T2 khai nhận chất tinh thể màu trắng là Ketamine, các viên nén màu hồng và xanh là thuốc lắc. Đây là chất ma tuý T2 cầm theo người để bán cho một người đàn ông không quen biết tại khu vực thị trấn S, T, mục đích lấy 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), tuy nhiên T2 chưa giao được ma tuý thì đã bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang tại ngã tư vòng xuyến Cảng hàng không T. Nguyễn Tuấn A1 là lái xe taxi được Vũ Anh T2 thuê chở đi bán ma tuý để lấy tiền công 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), Nguyễn Tuấn A1 biết mục đích Vũ Anh T2 thuê chở đến thị trấn S để bán ma tuý. Về nguồn gốc chất ma tuý Vũ Anh T2 khai báo: Vào tối ngày 06/11/2024, T2 được Phạm Xuân T (sinh năm 2004, trú tại số C T, phường P, thành phố T) và Trần Xuân L (sinh năm 1999, trú tại số B T, phường P, thành phố T) nhờ đi bán ma tuý. Sau đó, L về nhà lấy ma tuý gồm 03 (ba) viên thuốc lắc và 01 (một) chỉ ketamine đưa cho T thì T giao lại số ma tuý trên cho T2 và yêu cầu đến thị trấn S, huyện T bán cho khách để lấy số tiền 3.900.000đ (ba triệu chín trăm nghìn đồng).
Nguyễn Tuấn A1 khai nhận được Vũ Anh T2 thuê chở đến thị trấn S để bán ma tuý, mục đích Nguyễn Tuấn A1 chở Vũ Anh T2 đi bán ma tuý để lấy 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền công. Tuấn Al biết rõ mục đích Vũ Anh T2 thuê chở đến thị trấn S là để bán ma tuý (ketamine và thuốc lắc).
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn L1, Phạm Xuân T, Vũ Anh T2 phát hiện thu giữ các đồ vật sau:
Tại chỗ ở của Phạm Xuân T ở số C T, phường P, thành phố T phát hiện, thu giữ: 07 (bảy) túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Ma túy Nguyễn Xuân T5”.
Quá trình làm việc T5 tự giác giao nộp gồm:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max gắn thẻ sim số thuê bao 0346.246.862.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus gắn thẻ sim số thuê bao 0384.477.188.
Tại chỗ ở của Trần Xuân L ở số B T, phường P, thành phố T phát hiện, thu giữ:
- 13 (mười ba) túi nilon màu trắng viền đỏ dạng túi zip bên trong các túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng, 08 (tám) túi nilon màu trắng viền xanh dạng túi zip bên trong các túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng. Tất cả túi nilon trên được đựng trong túi nilon màu trắng dạng túi zip viền đỏ, trong phong bì niêm phong ký hiệu “ML”.
- Số tiền 4.150.000đ (bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu ghi, gắn thẻ sim số thuê bao 0368.021.399, điện thoại đã qua sử dụng;
- 01 (một) thẻ ngân hàng A2, trên thẻ có dãy số 1624600064544. (Bút lục: 19-20)
Tại chỗ ở của Vũ Anh T2 ở phố T, phường Đ, thành phố T phát hiện, thu giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng viền đỏ, dạng túi zip bên trong túi nilon có 02 (hai) túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong các túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “MT”.
Cơ quan điều tra phối hợp Trung tâm y tế huyện T tiến hành xét nghiệm các chất gây nghiện đối với Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1, Trần Xuân L, Phạm Xuân T, kết quả: T2, Tuấn A1, L âm tính với chất ma tuý, T dương tính với chất ma túy loại Ketamine. T khai nhận vào tối ngày 05/11/2024, T nhặt được 07 (bảy) túi nilon bên trong bám dính ketamine nên đem về nhà gom lại sử dụng. Sau đó vỏ túi để tại nhà khi cơ quan Công an khám xét đã thu giữ.
Quá trình điều tra, xác định: Vào tối ngày 06/11/2024, Phạm Xuân T, Trần Xuân L và Vũ Anh T2 cùng nhau ngồi uống bia tại khu vực Hồ Đ, Phường P, TP T. Đến khoảng gần 22 giờ có một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0855.766.xxx gọi điện vào số 0384.477.188 của Phạm Xuân T hỏi mua ma tuý với số lượng 03 viên thuốc lắc và một chỉ Ketamine. Do lúc này đang đi vệ sinh nên T gọi qua ứng dụng T6 cho L thông báo với L là có khách đặt mua ma tuý. Sau khi đi vệ sinh T ra bàn uống bia gặp L và T2, T nói với L là khách đặt 3 viên kẹo và một chỉ Ketamine hỏi L có ma tuý không để bán cho khách. L bảo có để L và T về nhà lấy rồi đưa cho T2 đi lên Sao Vàng bán ma tuý cho khách. T và L đi cùng nhau về nhà L, L lên tầng hai lấy ma tuý với số lượng ba viên thuốc lắc (bỏ trong túi nilon màu trắng), một “chỉ” ketamine chia đôi bỏ vào hai túi nilon màu trắng (mỗi túi nửa “chỉ”), cuộn vào khẩu trang màu trắng đưa cho T. Sau đó T gọi cho T2 đến lấy ma tuý. T2 đến khu vực cổng vào nhà L gặp T lấy số ma tuý trên và số điện thoại 0855.766.xxx của người hỏi mua ma tuý ở thị trấn S. Sau đó T2 sử dụng số điện thoại 0982.992.xxx gọi điện vào số 0934.522.345 cho Nguyễn Tuấn A1 (sinh năm 1987 trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) để thuê Tuấn A1 chở lên thị trấn S, Tuấn A1 đồng ý và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning biển số 36A – 114.01 đón T2 ở cây xăng Đ4. Trên đường đi T2 có nói cho Tuấn Al về việc lên Cảng hàng không Thọ X bán ma túy cho khách, hai bên thống nhất giá tiền công Tuấn Al chở đi là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), sau khi quay về thành phố T sẽ thanh toán tiền xe. Trên đường đi người đàn ông hỏi mua ma tuý có sử dụng số điện thoại 0855.766.xxx và 0368.057.516 gọi điện vào số 0327.423.462 của T2 thì T2 nói giá bán 03 (ba) viên thuốc lắc và 01 (một) chỉ Ketamine là 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), mục đích của T2 là lấy thêm tiền để trả taxi và ăn đêm. Tuấn A1 điều khiển xe ô tô chở T2 đi đến vòng xuyến, đường vào Cảng hàng không T, trong lúc đứng đợi khách đến để bán ma tuý thì bị Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý thu giữ toàn bộ số ma tuý trên người của Vũ Anh T2. Quá trình làm việc Trần Xuân L và Phạm Xuân T đều thừa nhận việc nhờ Vũ Anh T2 đi bán ma tuý số lượng 03 (ba) viên thuốc lắc và 01 (một) chỉ ketamine vào đêm ngày 06/11/2024 với giá 3.900.000đ (ba triệu chín trăm nghìn đồng) cho khách hỏi mua ở thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, số ma tuý này là do L đưa cho T để giao cho T2 đi bán. Về nguồn gốc số ma tuý trên là do L mua được của một người đàn ông tên H1 ở huyện T, tỉnh Thanh Hóa và ngày 02/11/2024 tại khu vực giáp ranh giữa thị trấn S, huyện T với xã T, huyện T (ngay vị trí biển báo “Triệu Sơn kính chào quý khách”) trên đường N – Sao Vàng với số lượng 12.000.0000đ (mười hai triệu đồng) ketamine và được H1 cho thêm 03 (ba) viên thuốc lắc. Sau khi mua được ma tuý L về nhà chia ra các túi zip nhỏ gồm gói có số lượng một “chỉ” và nửa “chỉ” nhằm mục đích bán cho người sử dụng. Đêm ngày 06/11/2024, L đã lấy ra 03 viên thuốc lắc và 01 chỉ ketamine đưa cho T để giao cho T2 đi bán, số ma tuý còn lại L cất giấu tại nhà thì bị Cơ quan Công an đến khám xét, thu giữ.
Đối với 07 (bảy) túi nilon bám dính chất ma túy (Ketamine) Cơ quan điều tra khám xét thu giữ tại nhà của Phạm Xuân T ở số C T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. T khai nhận mục đích cất giấu để sử dụng.
Đối với số ma túy (Ketamine) Cơ quan điều tra khám xét thu giữ tại nhà của Vũ Anh T2 ở phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. T2 và L đều khai nhận đây là số ma tuý L đưa cho T2 cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.
* Kết quả trưng cầu giám định:
+ Ngày 07/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1328/QĐ-ĐCSMT trưng cầu giám định số chất ma túy thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 4332/KL-KTHS ngày 13/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong mặt trước ghi “Ký hiệu Ma túy Vũ Anh T2” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,264g (một phẩy hai sáu tư gam) loại: Ketamine.
- 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng của phong bì niêm phong mặt trước ghi “Ký hiệu Ma túy Vũ Anh T2” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,714g (không phẩy bảy một bốn gam” loại: Methamphetamine, MDMA).
- 01 (một) viên nén hình hộp chữ nhật màu xanh của phong bì niêm phong mặt trước ghi “Ký hiệu Ma túy Vũ Anh T2” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,472g (không phẩy bốn bảy hai gam) loại: MDMA.
- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong mặt trước ghi “ML” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 18,914g (một tám phẩy chín một bốn gam) loại: Ketamine.
- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong mặt trước ghi “MT” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,255g (một phẩy hai năm năm gam) loại: Ketamine.
- Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 07 (bảy) túi nilon màu trắng, viền đỏ của phong bì niêm phong mặt trước ghi “Ký hiệu Ma túy Nguyễn Xuân T5” gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy.
+ Ngày 07/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1329/QĐ-ĐCSMT, trưng cầu giám định đối với số tiền 4.150.000 đ thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Xuân L, kết quả: Tại bản kết luận giám định số 4367/KL-KTHS ngày 15/11/2024 của Phòng K kết luận: Toàn bộ số tiền gửi giám định là tiền thật.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu, xử lý vật chứng:
+ 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, biển kiểm soát 36A – 114.01, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Quách Công Đ1 (sinh năm 1983, trú tại 84, B, phường N, thành phố T) ông Đ1 không biết việc Nguyễn Tuấn Al dùng xe chở Vũ Anh T2 đi bán ma túy nên ngày 08/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho ông Đ1; 01 (một) thẻ ngân hàng A2 có dãy số 1624600064544 của Trần Xuân L, ngày 16/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho Trần Xuân L.
+ Vật chứng đang được bảo quản theo quy định:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu hồng, gắn thẻ sim số thuê bao 0327423462, điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0982992841, điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi POCO F4 GT màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim số thuê bao 0934.552.345.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, gắn thẻ sim số thuê bao 0346.246.862, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus, gắn thẻ sim số thuê bao 0384.477.188, đã qua sử dụng.
- Số tiền 4.150.000đ (bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu ghi, gắn thẻ sim số thuê bao 0368.021.399, điện thoại đã qua sử dụng.
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì và 1,163g (một phẩy một sáu ba gam) chất tinh thể màu trắng của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 0,622g (không phẩy sáu hai hai gam) chất bột màu hồng của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 0,414g (không phẩy bốn một bốn gam) chất bột màu xanh của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 18,568g (một tám phẩy năm sáu tám gam) các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “ML”; 1,167g (một phẩy một sáu bảy gam) các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “MT”. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T7, Lưu Bình N2, Nguyễn Đình Đ3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSTX ngày 24/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Bị cáo Trần Xuân L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Xuân T, Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân L, Phạm Xuân T, Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt đề nghị:
- Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Xuân L.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Xuân T, Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1. Riêng bị cáo Vũ Anh T2 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- + Xử phạt bị cáo Trần Xuân L từ 07 năm 02 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
- + Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 28 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
- + Xử phạt bị cáo Vũ Anh T2 từ 26 tháng tù đến 29 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A1 từ 25 tháng tù đến 28 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì và 1,163g (một phẩy một sáu ba gam) chất tinh thể màu trắng của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 0,622g (không phẩy sáu hai hai gam) chất bột màu hồng của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 0,414g (không phẩy bốn một bốn gam) chất bột màu xanh của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2"; 18,568g (một tám phẩy năm sáu tám gam) các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “ML”; 1,167g (một phẩy một sáu bảy gam) các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “MT”. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T7, Lưu Bình N2, Nguyễn Đình Đ3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu hồng, gắn thẻ sim số thuê bao 0327423462, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0982992841, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, gắn thẻ sim số thuê bao 0346.246.862, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus, gắn thẻ sim số thuê bao 0384.477.188, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu ghi, gắn thẻ sim số thuê bao 0368.021.399, điện thoại đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi POCO F4 GT màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim số thuê bao 0934.552.345.
Trả lại cho bị cáo Trần Xuân L số tiền 4.150.000đ;
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo không có tranh luận gì, lời nói sau cùng các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
- Ngày 06/11/2024, Trần Xuân L có hành vi: bán 1,264g Ketamin và 1,186g Methamphetamine, MDMA cho một người chưa xác định được ở thị trấn S; tàng trữ tại nhà 18,914g K với mục đích để bán; đưa cho Vũ Anh T2 1,255g K để bán. Tổng khối lượng ma túy L bán và tàng trữ để bán là 21,433g Ketamin và 1,186g Methamphetamine, MDMA;
- Phạm Xuân T có hành vi giúp sức cho Trần Xuân L bán trái phép 1,264g Ketamin và 1,186g Methamphetamine, MDMA cho một người ở thị trấn S;
- Ngày 06/11/2024, Vũ Anh T2 có hành vi tàng trữ 1,264g Ketamin và 1,186g Methamphetamine, MDMA với mục đích để giao bán cho người mua tại thị trấn S giúp cho Trần Xuân L và Phạm Xuân T nên T2 đã đồng phạm với L và T về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy; đồng thời T2 có hành vi tàng trữ 1,255g Ketamin tại nhà với mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy T2 đi giao bán và tàng trữ để bán là 2,519g Ketamin và 1,186g Methamphetamine, MDMA;
- Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 06 tháng 11 năm 2024, Nguyễn Tuấn A1 có hành vi giúp sức cho Vũ Anh T2 đi giao ma túy nên hành vi của Nguyễn Tuấn Al đã đồng phạm với Vũ Anh T2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy, với khối lượng ma túy là 1,264g Ketamin và 1,186g Methamphetamine, MDMA.
MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục IB, số thứ tự 11; Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247; Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, số thứ tự 40 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Xuân L đã đủ cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Phạm Xuân T, Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1 đã đủ cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Xét vai trò, tính chất và mức độ của từng bị cáo khi thực hiện hành vi để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo L là người đưa ma tuý cho các bị cáo T và T2 mang đi bán nên có vai trò lớn nhất, bị cáo T lấy ma tuý từ L và đưa ma tuý cho T2 mang đi bán nên có vai trò thứ hai, bị cáo T2 có vai trò thứ ba, bị cáo Tuấn A1 chỉ là người giúp sức bằng việc chở bị cáo T2 đi giao ma tuý nên có vai trò sau cùng.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo L, T, T2 đều là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Bị cáo Tuấn A1 là người có nhân thân xấu, năm 2007 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Vũ Anh T2 có ông nội Vũ Hùng T8 là người có công với Cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy, hình phạt đối với tội phạm về ma túy cần phải nghiêm khắc, mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Xét các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần thiết xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì và 1,163g (một phẩy một sáu ba gam) chất tinh thể màu trắng của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 0,622g (không phẩy sáu hai hai gam) chất bột màu hồng của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 0,414g (không phẩy bốn một bốn gam) chất bột màu xanh của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 18,568g (một tám phẩy năm sáu tám gam) các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “ML”; 1,167g (một phẩy một sáu bảy gam) các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “MT”. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T7, Lưu Bình N2, Nguyễn Đình Đ3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Đây xác định là công cụ phạm tội hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, hiện không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu hồng, gắn thẻ sim số thuê bao 0327423462, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0982992841, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, gắn thẻ sim số thuê bao 0346.246.862, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus, gắn thẻ sim số thuê bao 0384.477.188, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu ghi, gắn thẻ sim số thuê bao 0368.021.399, điện thoại đã qua sử dụng là công cụ phạm tội hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án, đang còn giá trị nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi POCO F4 GT màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim số thuê bao 0934.552.345 là của bị cáo Nguyễn Tuấn A1. Bị cáo T2 gọi điện vào số thuê bao này của Tuấn Al để thuê bị cáo chở đi Cảng hàng không T, sau đó bị cáo Tuấn A1 mới biết việc chở T2 đi bán ma tuý, do đó chiếc điện thoại trên không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Số tiền 4.150.000đ là tiền cá nhân của bị cáo L, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân theo đúng quy định của pháp luật.
[7] Về các tình tiết liên quan đến vụ án:
Đối với nội dung Vũ Anh T2 khai nhận: Trước thời điểm ngày 06/11/2024 vài ngày (T2 không nhớ cụ thể ngày) T có nhờ T2 đến thị trấn S bán ma tuý cho một người đàn ông không quen biết với số lượng nửa chỉ ketamine giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, T2 đã thuê Nguyễn Tuấn A1 chở đến thị trấn S bán ma tuý. Quá trình điều tra Phạm Xuân T không thừa nhận việc nhờ T2 đi bán ma tuý và Nguyễn Tuấn A1 cũng không thừa nhận việc chở T2 đi bán ma tuý. Ngoài lời khai của Vũ Anh T2 không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xử lý đối với Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1, Phạm Xuân T về lần mua bán trái phép chất ma tuý này.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Xuân L.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Xuân T, Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1. Riêng bị cáo Vũ Anh T2 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Xuân L, Phạm Xuân T, Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1 phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”;
- + Xử phạt bị cáo Trần Xuân L 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
- + Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
- + Xử phạt bị cáo Vũ Anh T2 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A1 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2024.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì và 1,163g (một phẩy một sáu ba gam) chất tinh thể màu trắng của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 0,622g (không phẩy sáu hai hai gam) chất bột màu hồng của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 0,414g (không phẩy bốn một bốn gam) chất bột màu xanh của phong bì ghi: “Ký hiệu ma túy Vũ Anh T2”; 18,568g (một tám phẩy năm sáu tám gam) các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “ML”; 1,167g (một phẩy một sáu bảy gam) các hạt tinh thể màu trắng của phong bì ký hiệu “MT”. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T7, Lưu Bình N2, Nguyễn Đình Đ3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu hồng, gắn thẻ sim số thuê bao 0327423462, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0982992841, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, gắn thẻ sim số thuê bao 0346.246.862, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus, gắn thẻ sim số thuê bao 0384.477.188, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu ghi, gắn thẻ sim số thuê bao 0368.021.399, điện thoại đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi POCO F4 GT màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim số thuê bao 0934.552.345.
Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 25 ngày 26/02/2025.
Trả lại cho bị cáo Trần Xuân L số tiền 4.150.000 đ (bốn triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Toàn bộ số tiền trên hiện đang trong tài khoản tạm gửi số 3949.0.1053930.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân tại K huyện T.
4. Về án phí: Các bị cáo Trần Xuân L, Phạm Xuân T, Vũ Anh T2, Nguyễn Tuấn A1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cà
