|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 25-03-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI- TỈNH QUẢNG NINH
-
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Mạnh
- - Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thu Anh và ông Phạm Quốc Hưng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 03 năm 2025 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vương Văn P (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1975, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn lớp: 04/12, nghề nghiệp: lao động tự do, con ông Vương Văn C và bà Nguyễn Thị T (đã chết), vợ: Nguyễn Thị T1, bị cáo có 03 con, sinh năm 2004, 2006 và 2017. Tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 03/02/2023 bị Công an xã H, thành phố M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú, hiện tại ngoại. Có mặt.
- - Người chứng kiến: Đỗ Tiến X, Nguyễn Thị T1. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 01/11/2024, Vương Văn P đang đánh bắt hải sản ở vùng biển T, thành phố M, thì gặp một người đàn ông tên là L (không rõ lai lịch, địa chỉ) nói có pháo nổ Trung Quốc bán, nên nảy sinh ý định mua pháo về để đốt vào dịp Tết Nguyên đán và P đã mua của L 01 hộp pháo giàn loại 48 ống, với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được pháo, P đem về nhà ở thôn F, xã H, thành phố M, rồi cất giấu dưới gầm giường.
Tiếp đến, khoảng 16 giờ ngày 05/11/2024, P gặp L trên biển và đặt vấn đề mua thêm 04 hộp pháo giàn loại 36 ống, L đồng ý bán, với giá 150.000 đồng/01 hộp và hẹn gặp nhau tại khu vực B thuộc khu T, phường T, thành phố M. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 06/11/2024, P đi xe ôm đến khu vực cổng chào T rồi đi bộ xuống B gặp L. Tại đây, P đưa cho L 600.000 đồng, nhận tiền xong L đưa cho P 01 bọc hàng bằng túi nilon màu đen, dán băng dính, bên trong có 04 hộp pháo giàn, sau đó L bỏ đi còn P cầm bọc túi nilon chứa pháo đi ra đường L để bắt xe ôm, đem pháo về nhà cất giấu. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, khi P đi đến khu vực cổng chào T, thuộc khu T, phường T, thành phố M thì bị Công an thành phố M kiểm tra, phát hiện, thu giữ của P 01 bọc hàng bằng túi nilon màu đen, dán băng dính, bên trong có 04 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, cùng kích thước (15,3x15,3x14,6) cm, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, khối lượng mỗi khối là 1,4kg. Tổng khối lượng là 5,6kg. Quá trình kiểm tra, Vương Văn P còn tự nguyện giao nộp 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (25,5x17,5x17,5) cm, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, khối lượng là 2,5kg, đang cất giấu tại chỗ ở của P, ở thôn F, xã H, thành phố M.
Tổng khối lượng pháo đã phát hiện, thu giữ của P là 8,1kg. Ngoài ra, còn tạm giữ của P 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus, màu vàng trắng, gắn sim số 0357.909.548.
Tại Bản kết luận giám định số 8760/KL-KTHS ngày 11/11/2024, của V Bộ C1, kết luận: mẫu vật ghi thu của Vương Văn P, gửi giám định gồm 04 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, cùng kích thước (15,3x15,3x14,6)cm, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, khối lượng mỗi khối 1,4kg, đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 5,6kg; 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (25,5x17,5x17,5)cm, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 2,5kg. Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 8,1kg, đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất.
Quá trình điều tra, Vương Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Người làm chứng ông Đỗ Tiến X có lời khai: hồi 05 giờ 30 phút, ngày 06/11/2024, tại khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, ông được chứng kiến Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh kiểm tra hành chính 01 người đàn ông khai tên là Vương Văn P, sinh năm 1975, nơi thường trú: thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện trong bọc hàng do P khuân vác có chứa 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm, kích thước giống nhau, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, toàn bộ nghi là pháo nổ do nước ngoài sản xuất. P khai nhận toàn bộ 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật là pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất do P đặt mua của người đàn ông tên L (không rõ lai lịch) với giá 150.000 đồng/khối nhằm mục đích sử dụng trong dịp tết âm lịch nhưng chưa kịp mang về để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. P còn khai nhận ngoài số pháo trên P con một số lượng pháo tại gầm giường nhà P thộc thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và P tự nguyện giao nộp cho Công an. Công an tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng theo quy định.
Người chứng kiến chị Nguyễn Thị T1 có lời khai: chị là vợ của bị cáo Vương Văn P. Ngày 06/11/2024 khi chị đang ở nhà thuộc thôn F, xã H, thành phố M thì có lực lượng Công an thành phố và đại diện chính quyền địa phương đưa chồng chị về nhà và chị thấy chồng chị (P) dẫn lực lượng Công an đến vị trí giường gỗ đặt ở vị trí cửa bếp, P lấy ra từ gầm giường 01 khối hình chữ nhật, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài giao nộp cho cơ quan chức năng. Quá trình kiểm tra Công an xác định 01 khối hình chữ nhật, kích thước (25x5x17,5x17,5)cm, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc, khối lượng 2,5kg, nghi là pháo nổ và chị được cơ quan Công an thông báo chồng chị bị khởi tố về hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ, lúc này chị mới biết chồng chị có hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ, chị khẳng định chồng chị giấu một số lượng pháo nổ do nước ngoài sản xuất và bị bắt quả tang thu giữ tại nhà, chị không liên quan đến hành vi phạm tội trên của chồng chị.
Tại biên bản kiểm tra hồi 06 giờ 00 phút, ngày 06/11/2024 của Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh thể hiện: hồi 05 giờ 30 phút, ngày 06/11/2024, tổ công tác Đội cảnh sát ĐTTP về kinh tế và chức vụ Công an thành phố M phối hợp Công an phường T, thành phố M đã phát hiện 01 người đàn ông đang khuân vác 01 bọc hàng được bọc kín bằng túi nilon màu đen và băng dính, đi bộ từ sau cổng chào khu T, phường T thành phố M, có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra người đàn ông khai tên là Vương Văn P, sinh năm 1975, nơi thường trú: thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện trong bọc hàng do P khuân vác có chứa 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm, kích thước giống nhau, bên ngoài là lớp giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, toàn bộ nghi là pháo nổ do nước ngoài sản xuất. P khai nhận toàn bộ 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật là pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất, P đặt mua của người đàn ông tên L (không rõ lai lịch) với giá 150.000 đồng/khối nhằm mục đích sử dụng trong dịp tết âm lịch nhưng chưa kịp mang về để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. P còn khai nhận ngoài số pháo trên P còn cất giấu một số lượng pháo tại gầm giường nhà P thuộc thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và P tự nguyện giao nộp cho Công an. Công an tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng theo quy định.
Bản cáo trạng số 573/CT-VKSMC ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Vương Văn P về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vương Văn P về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vương Văn P từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu cho tiêu hủy đối với hủy 01 (một) bọc túi nilon màu đen có dán băng dính. Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng trắng, số Imel 1: 35811087645290, gắn sim số 0357.909.548.
Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vương Văn P về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [2] Về chứng cứ: Tại phiên tòa bị cáo Vương Văn P hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
-
[3] Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: ngày 06/11/2024, tại khu T, phường T và thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Vương Văn P có hành vi tàng trữ trái phép 8,1kg (tám phẩy một kilôgam) pháo hoa nổ, do Trung Quốc sản xuất, nhằm mục đích để sử dụng bị Công an thành phố M kiểm tra phát hiện, bắt thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Vương Văn P đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”
-
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo Vương Văn P là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật. Nhưng do tu dưỡng, rèn luyện đạo đức kém, coi thường pháp luật nên đã cố tình, mua tàng trữ pháo để nhằm mục đích sử dụng. Bản thân bị cáo là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân để trở thành người tốt. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
-
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thì thấy:
- - Tình tiết tăng nặng: không có.
- - Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít ngiêm trọng, tự nguyện giao nộp 01 khối lượng pháo cất giấu ở nhà. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự còn có thể phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước. Nhưng xét bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn đinh, kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
-
[7] Về xử lý vật chứng: đối với 8,1kg pháo hoa nổ, đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với 01 (một) bọc túi nilon màu đen có dán băng dính, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng trắng, số Imel 1: 35811087645290, gắn sim số 0357909548 thu của bị cáo. Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- [8] Các tình tiết khác của vụ án: đối với người đàn ông là L, theo Vương Văn P khai là người đã bán trái phép pháo hoa nổ, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra làm rõ, chưa đủ căn cứ xử lý.
- [9] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định.
- [10] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: bị cáo Vương Văn P 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
-
-
Căn cứ điểm d khoản 1 khoản 2 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 04/2025/HSST-LCCT, ngày 20/02/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 04/2025/QĐ-TA ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đối với bị cáo Vương Văn P.
Giao bị cáo Vương Văn P cho UBND xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
-
-
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy đối với hủy 01 (một) bọc túi nilon màu đen có dán băng dính.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng trắng, số Imel 1: 35811087645290, gắn sim số 0357.909.548.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng số 66/2025/THA ngày 28/02/2025 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
-
-
Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vương Văn P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo
