Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Hải Toản.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đàm Thị Thanh Thủy; ông Trần Văn Sinh.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Thanh T, tên gọi khác: không; sinh ngày 24/9/1996, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ F, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Đ và bà Ngô Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: năm 2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 24 ngày về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vũ Hoàng D1, tên gọi khác: không; sinh ngày 09/7/1978, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKNKTT: tổ C, khu B, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở trước khi bị bắt: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hoàng H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Trần Thị T2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú ngày 03/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Bùi Duy L, tên gọi khác: không; sinh ngày 08/11/1996, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn S (đã chết) và bà Đào Thị L1; chung sống với Trần Thị Thanh T3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn T4, tên gọi khác: không; sinh ngày 08/3/1999, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T5 và bà Đỗ Thị T6; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam ngày 02/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Hoàng Sơn T7, tên gọi khác: không; sinh ngày 17/11/1992, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T8 và bà Lê Thị T9; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: năm 2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm và xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 08/9/2012 chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Phạm Thái P, sinh năm 2001; nơi cư trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Ngọc T10, sinh năm 1998; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Hoàng Phan H1, sinh năm 1998; nơi cư trú: tổ F, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 6/2024, trên địa bàn các thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố H đã phát hiện các vụ án mua bán trái phép chất ma túy, như sau:

- Vụ án thứ nhất: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 02/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện Phạm Thái P (sinh năm 2001, trú tại tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy, nên đã đưa P đến Trung tâm y tế thành phố H xét nghiệm nước tiểu, kết quả P dương tính với ma túy cần sa. P khai nhận, trước đó ngày 02/6/2024 tại khu vực thuộc Tổ A, Khu G, phường C, thành phố H, P mua 01 túi ma túy cần sa với giá 200.000 đồng của Nguyễn Văn T4 và đã sử dụng hết.

Ngày 02/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T4 và khám xét nơi ở của T4 tại Tổ A, Khu G, phường C, thành phố H, thu giữ vật chứng: Thu trong ngăn kéo tủ có 01 hộp giấy bên trong chứa 49,86 gam ma túy cần sa và 03 túi nilon bên trong đều chứa 1,877 gam ma túy cần sa (Kết luận giám định số 822 ngày 07/6/2024 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q).

- Vụ án thứ hai: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 03/6/2024, tại khu vực thuộc Tổ D, Khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt quả tang Hoàng Sơn T7 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán. Vật chứng thu giữ: T11 trong túi quần bên phải phía trước của T7 01 túi nilon bên trong chứa 0,217 gam ma túy Methamphetamine và 01 túi nilon bên trong chứa 0,092 gam ma tuý Delta9 - tetrahydrcanabinol (là một trong các hoạt chất chính có trong Cần sa). Nguồn gốc số ma túy trên, Hoàng Sơn T7 khai mua của Vũ Hoàng D1 và được Nguyễn Ngọc T10 cho.

Ngày 03/6/2024, Vũ Hoàng D1 đến Công an thành phố H đầu thú và Cơ quan CSĐT Công an thành phố H khám xét khẩn cấp nơi ở của anh Nguyễn Ngọc T10 tại Tổ A, Khu B, phường H, thành phố H, thu giữ 01 túi nilon bên trong chứa 5,163 gam ma túy cần sa. Nguồn gốc số ma tuý này, T10 khai trước đó mua của một người không quen biết, ngoài ra còn mua ma tuý của Bùi Duy L để sử dụng.

Cùng ngày 03/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở của Bùi Duy L tại tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, thu giữ vật chứng: Thu trong người Linh 03 túi nilon chứa 2,246 gam ma túy cần sa. T11 trong cốp xe mô tô (chưa có biển kiểm soát) có 110,445 gam ma túy cần sa. T11 tại mặt bàn uống nước, trong tủ gỗ, túi quần, tủ giầy có tổng cộng 40,293 gam ma túy cần sa và 0,546 gam ma tuý Delta9 - tetrahydrcanabinol. Nguồn gốc số ma tuý trên, L khai trước đó đã cùng Vũ Thanh T chung tiền mua để bán.

Tiếp tục cùng ngày 03/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở Vũ Thanh T tại Tổ F, Khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, thu giữ vật chứng: Thu trong các ngăn tủ quần áo có tổng cộng 158,261 gam ma túy cần sa; 2,987 gam ma tuý Delta9 - tetrahydrcanabinol và 02 lọ thủy tinh chứa 202,808 gam ma túy cần sa (Kết luận giám định số 857 ngày 12/6/2024 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q).

Qua điều tra, xác minh, xác định các bị cáo trong các vụ án trên có liên quan đến nhau hoặc cùng tham gia thực hiện tội phạm, nên Cơ quan điều tra đã nhập vụ án để điều tra theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:

1. Hành vi bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T4.

Trong tháng 5/2024, Nguyễn Văn T4 sử dụng tài khoản Telegram “Bé Lên B” của T4 liên lạc, trao đổi với Nguyễn Phi C qua tài khoản T12 “Hồng Chí C1” để mua ma tuý cần sa về sử dụng và bán kiếm lời. Hình thức thanh toán là T4 chuyển khoản từ tài khoản số 0971889199 của Tới mở tại Ngân hàng TMCP Q1 đến tài khoản số 04101019760836 mang tên Lê Thị Q mở tại Ngân hàng TMCP H3 và tài khoản số [...] mang tên Dương Ngọc L2 mở tại Ngân hàng Q2 do C cung cấp. Sau khi nhận được tiền, C sẽ chuyển ma tuý cho T4 qua đường bưu điện. Cụ thể, ngày 09/5/2024 và ngày 18/5/2024, T4 mua của C 02 lần tổng cộng 100 gam ma túy cần sa, với giá 9.300.000 đồng, rồi mang về nhà chia thành nhiều gói nhỏ, sau đó sử dụng một phần và bán lại cho nhiều người không rõ lai lịch địa chỉ. Trong đó, ngày 31/5/2024 và ngày 02/6/2024, tại khu vực trước cửa nhà T4 thuộc Tổ A, Khu G, phường C, thành phố H, T4 bán 02 lần, mỗi lần 01 gói ma túy cần sa với giá 200.000 đồng cho Phạm Thái P. Số ma túy còn lại (51,737 gam ma túy cần sa), T4 tiếp tục cất giấu tại nơi ở để bán, thì ngày 02/6/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khám xét thu giữ.

Như vậy, Nguyễn Văn T4 đã 02 lần bán 02 gói ma túy cần sa với giá 200.000 đồng cho Phạm Thái P; tàng trữ để trái phép 51,737 gam ma túy cần sa, mục đích để bán.

2. Hành vi bán trái phép chất ma túy của Bùi Duy L.

Tháng 4/2024, thông qua mạng T12, Bùi Duy L sử dụng tài khoản Telegram “Duy L” kết bạn và trao đổi thoả thuận mua ma tuý cần sa với một tài khoản Telegram “CoCo” (viết tắt là C2) để bán kiếm lời. L chuyển tiền trước vào tài khoản số 9063827533333 mang tên Trịnh Quốc T13 mở tại Ngân hàng V cho “CoCo”, sau đó “CoCo” chuyển tiền và báo lại cho tài khoản T12 “Hồng Chí C1” là Nguyễn Phi C, sau đó C sẽ báo số lượng ma túy cần sa và địa chỉ cho các kho để đóng gói chuyển ma túy cho L.

Từ giữa tháng 4/2024 đến ngày bị bắt, L đã nhiều lần mua ma túy của người có tài khoản “CoCo”, sau đó bán cho Vũ Thanh T (bạn học cùng phổ thông với L), Nguyễn Ngọc T10, Hoàng Phan H1(quen biết ngoài xã hội) và nhiều người khác không rõ lai lịch địa chỉ, cụ thể như sau:

  • Giữa tháng 4/2024, L đã 02 lần mua tổng cộng 40 gam ma tuý cần sa với giá 6.800.000 đồng của “CoCo”. Sau đó, L bán cho nhiều người, trong đó bán cho Vũ Thanh T 02 lần, mỗi lần 10 gam ma túy cần sa với giá 2.800.000 đồng.
  • Ngày 24/5/2024, L mua 150 gam ma túy cần sa với giá 13.000.000 đồng của “CoCo”, sau đó L bán cho nhiều người, trong đó bán cho Vũ Thanh T 100 gam với giá 11.000.000 đồng.
  • Ngày 29/5/2024, Vũ Thanh T đặt mua của L 100 gam ma túy cần sa với giá 11.000.000 đồng và trả trước cho L 8.000.000 đồng, còn lại sẽ trả sau. Sau đó, L mua của “CoCo” 150 gam ma túy cần sa với giá 13.000.000 đồng để bán cho Vũ Thanh T và những người khác. Đến ngày 03/6/2024 nhận được ma túy mua của “CoCo”, L lấy một phần (110,445 gam) cất vào cốp xe mô tô (chưa có biển kiểm soát) để giao cho T; còn lại, L chia thành nhiều gói nhỏ cất giấu tại nơi ở của L (40,293 gam ma túy cần sa và 0,546 gam ma tuý Delta9 - tetrahydrcanabinol) để khi có khách thì bán và mang theo 03 gói (2,246 gam cần sa) đi tìm chỗ bán, nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố H khám xét trên người và chỗ ở thu giữ toàn bộ số ma tuý trên.
  • Ngày 11/5/2024 và ngày 01, 02/6/2024, sau khi mua ma tuý của “CoCo”, L đã bán cho Nguyễn Ngọc T10 01 túi ma túy cần sa, với giá 200.000 đồng; bán cho Hoàng Phan H1 02 lần, mỗi lần 01 túi ma túy cần sa, với giá 300.000 đồng tại khu vực thuộc Tổ A, Khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Số ma tuý mua của L trên, T10 và H1 đã sử dụng hết. Ngoài ra, ngày 02/6/2024, T10 mua 01 túi ma tuý cần sa của một người không quen biết với giá 700.000 đồng tại khu vực G, phường T, thành phố H. Sau đó, T10 sử dụng một phần; cho Hoàng Sơn T7 01 túi (0,092 gam ma tuý Delta9 - tetrahydrcanabinol); còn lại (5,163 gam ma túy cần sa), T10 cất giấu tại nơi ở của T10 thì ngày 03/6/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố H khám xét thu giữ.

Như vậy, Bùi Duy L 07 lần bán trái phép ma tuý cần sa cho Vũ Thanh T, Nguyễn Ngọc T10, Hoàng Phan H1 và bán cho nhiều người tổng cộng 230,445 gam ma tuý cần sa; tàng trữ để bán trái phép 42,539 gam ma tuý cần sa. Tổng cộng, L đã bán và tàng trữ để bán trái phép là 272,984 gam ma tuý và 0,546 gam ma tuý Delta9 – tetrahydrcanabinol (Là một trong các hoạt chất chính có trong C)

3. Hành vi bán trái phép chất ma túy của Vũ Thanh T.

Ngoài số ma túy mua được ma túy của Bùi Duy L trên (120 gam ma tuý cần sa) và 100 gam ma tuý cần sa chưa nhận, Vũ Thanh T còn được một người tên L3 và một người bạn (đều không rõ lai lịch, địa chỉ) cho 01 túi ma túy cần sa (202,808 gam) và 01 túi ma tuý cần sa (38,261), (2,987 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol). Toàn bộ số ma tuý trên (361,069 gam ma tuý cần sa; 2,987 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol), Thanh T mang về nơi ở của Thanh T chia thành nhiều gói nhỏ.

Sau đó, Thanh T đã bán cho nhiều người không rõ lai lịch, địa chỉ, trong đó vào các ngày 23 và 27/5/2024, tại khu vực chợ H4, thuộc phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Thanh T đã bán 02 lần, mỗi lần 01 túi ma túy cần sa, với giá 200.000 đồng cho Lương Văn H2.

Như vậy, Vũ Thanh T nhiều lần đã bán trái phép 220 gam ma túy cần sa, tàng trữ trái phép để bán 361,069 gam ma túy cần sa và 2,987 gam ma túy Delta9 - tetrahydrcanabinol. Tổng số ma túy Vũ Thanh T đã bán và tàng trữ để bán là 481,069 gam ma túy cần sa và 2,987 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol (Là một trong các hoạt chất chính có trong C)

3. Hành vi bán trái phép chất ma túy của Vũ Hoàng D1 và Hoàng Sơn T7

Vũ Hoàng D1 và H T7 quen biết nhau trước. Ngày 29/5/2024, T7 gọi điện thoại cho D1 đặt mua 1.000.000 đồng ma túy và thanh toán bằng hình thức T7 chuyển khoản từ tài khoản số 1017242287 của T7 mở tại Ngân hàng TMCP V1 đến tài khoản số 0382993471 của D1 mở tại Ngân hàng TMCP V2. Sau khi nhận được tiền, D1 hẹn và bán cho T7 01 túi ma túy loại Methamphetamine tại khu vực thuộc tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Số ma tuý này, T7 đã tự sử dụng hết.

Đến ngày 01/6/2024, T7 tiếp tục gọi điện thoại cho D1 trao đổi mua bán ma tuý và chuyển khoản cho D1 đặt mua 1.000.000 đồng ma túy. Sau khi nhận được tiền, D1 hẹn và giao cho T7 01 túi ma túy loại Methamphetamine tại cổng nhà Nguyễn Ngọc T10 (là bạn của Hoàng Sơn T7) ở Tổ A, Khu B, phường H, thành phố H. Sau khi mua được số ma tuý này, T7 sử dụng một phần, còn lại (0,217 gam ma túy Methamphetamine) T7 cất giấu trong người, mục đích để bán. Đến buổi sáng ngày 03/6/2024, T7 đến nhà Nguyễn Ngọc T10 xin ma túy cần sa để sử dụng, T10 đã cho Sơn T7 01 túi cần sa (0,092 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol). Tuy nhiên, T7 không sử dụng, mà mang số ma túy này cùng với số ma tuý mua của D1 trên đến khu vực thuộc Tổ D, Khu D, phường C, thành phố H để bán, những chưa kịp bán thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Nguồn gốc số ma tuý D1 bán cho T7 trên, là do D1 mua của 02 người không rõ lai lịch địa chỉ tại khu vực gầm cầu B và cầu A C, thành phố H trước đó.

Như vậy, Vũ Hoàng D1 đã 02 lần bán trái phép 0,8 gam ma tuý Methamphetamine cho Hoàng Sơn T7; Hoàng Sơn T7 đã tàng trữ trái phép 0,217 gam ma túy Methamphetamine và 0,092 gam ma tuý Delta9 - tetrahydrcanabinol, mục đích để để bán

Bản Cáo trạng số 6919/CT-VKSQN-P1 ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Vũ Thanh T, Vũ Hoàng D1, Bùi Duy L, Nguyễn Văn T4 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Hoàng Sơn T7 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có nội dung lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện là những người có hành vi mua ma túy của các bị cáo về để sử dụng cho bản thân và đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh Nguyễn Ngọc T10, Phạm Thái P có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện đều là những người mua ma túy về để sử dụng, trong quá trình làm việc có bị thu giữ điện thoại di động và không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Thanh T, Vũ Hoàng D1, Bùi Duy L, Nguyễn Văn T4, Hoàng Sơn T7 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu và thừa nhận bị truy tố và xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh là đúng người, đúng tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vũ Thanh T, Vũ Hoàng D1, Bùi Duy L, Nguyễn Văn T4, Hoàng Sơn T7 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

  • + Xử phạt bị cáo Vũ Thanh T từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/6/2024.
  • + Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng D1 từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/6/2024.
  • + Xử phạt bị cáo Bùi Duy L từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/6/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/6/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng Sơn T7 từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tình từ ngày 03/6/2024.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo đều nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Thanh T, Vũ Hoàng D1, Bùi Duy L, Nguyễn Văn T4, Hoàng Sơn T7 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Căn cứ vào các Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

  • - Bùi Duy L đã 04 lần bán trái phép 16 túi ma túy cần sa với giá 3.200.000 đồng cho Nguyễn Ngọc T10, Hoàng Phan H1; 04 lần bán trái phép 220 gam ma túy cần sa với giá 25.600.000 đồng cho Vũ Thanh T; tàng trữ trái phép 152,984 gam ma túy cần sa, 0,546 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol, mục đích để bán, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thu giữ vật chứng. Tổng cộng, L đã bán và tàng trữ để bán trái phép là 372,984 gam ma túy cần sa và 0,546 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol.
  • - Vũ Thanh T đã nhiều lần bán trái phép ma tuý 220 gam ma tuy cần sa cho nhiều người, trong đó bán 02 lần tổng số 02 túi ma túy cần sa với giá 400.000 đồng cho Lương Văn H2; tàng trữ trái phép 361,069 gam ma túy cần sa và 2,987 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol, mục đích để bán, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q thu giữ vật chứng. Tổng cộng, Vũ Thanh T đã bán và tàng trữ để bán trái phép là 581,069 gam ma túy cần sa và 2,987 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol.
  • - Nguyễn Văn T4 đã bán trái phép 02 lần tổng số 02 gói ma túy cần sa với giá 400.000 đồng cho Phạm Thái P; tàng trư trái phép 51,737 gam ma túy cần sa, mục đích để bán, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thu giữ vật chứng. Tổng cộng, T4 đã bán và tàng trữ để bán trái phép 51,737 gam và 02 gói ma túy cần sa.
  • - Vũ Hoàng D1 đã 02 lần bán trái phép 0,8 gam ma túy Methamphetamine với giá 2.000.000 đồng cho Hoàng Sơn T7.
  • - Hoàng Sơn T7 đã tàng trữ trái phép 0,217 gam ma túy Methamphetamine cùng 0,092 gam Delta9 - tetrahydrcanabinol, mục đích để bán, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thu giữ vật chứng.

Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại nhiều mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, là nguồn phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được việc mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời và ý thức chấp hành pháp luật kém, các bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của các bị cáo Vũ Thanh T, Vũ Hoàng D1, Bùi Duy L, Nguyễn Văn T4 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Hoàng Sơn T7 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[3] Xét vai trò các bị cáo:

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập nên phải tự chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy mà mình mua bán.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Bùi Duy L đã từng có thời gian tham gia quân ngũ tại Trung đoàn 213 Sư đoàn 363; bị cáo Vũ Hoàng D1 có bố là ông Vũ Hoàng H được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo Vũ Thanh T có ông nội là Vũ Kim T14 được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba nên xem xét cho các bị cáo L, D1, Thanh T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy, các bị cáo đều không có thu nhập, việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về số tiền thu lời bất chính: quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo thu lời từ việc mua bán ma túy như sau:

Bị cáo Vũ Thanh T thu lời 10.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T4 thu lời 7.600.000 đồng; bị cáo Vũ Hoàng D1 thu lời 2.000.000 đồng; bị cáo Bùi Duy L thu lời 15.000.000 đồng. Do đó cần buộc các bị cáo phải nộp lại để sung nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Về vật chứng: quá trình điều tra có thu giữ một số ma túy sau giám định đã được niêm phong và các đồ vật sử dụng trong việc mua bán ma túy; thu của Nguyễn Văn T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim; thu của Hoàng Sơn T7 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim; thu của Vũ Hoàng D1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi + 02 sim; thu của Bùi Duy L 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim; thu của Vũ Thanh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone + 01 sim; thu của anh Phạm Thái P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi + 01 sim; thu của anh Nguyễn Ngọc T10 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi + 01 sim.

Đối với ma túy là vật cấm lưu hành; các đồ vật như: 03 cân điện tử; 01 lọ kim loại; 03 lọ thủy tinh; 103 vỏ túi nilon cùng toàn bộ sim điện thoại đi kèm những chiếc điện thoại di động thu của các bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với những chiếc điện thoại di động thu của Vũ Thanh T, Vũ Hoàng D1, Bùi Duy L, Nguyễn Văn T4, Hoàng Sơn T7, các bị cáo đều khai có sử dụng vào việc liên lạc với nhau liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động và sim, thu của các anh Phạm Thái P và Nguyễn Ngọc T10, xét thấy không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại.

Đối với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) thu của Bùi Duy L và số tiền 3.990.000đ (ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) thu của Vũ Thanh T, xét thấy đây là những số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.

[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với Nguyễn Phi C, là đối tượng tham gia đầu mối trung gian mua bán trái phép ma túy cần sa trên mạng xã hội Telegram. Cơ đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tách ra trong vu án khác để điều tra làm rõ hành vi của C cùng những đối tượng liên quan khác để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Thái P, Nguyễn Ngọc T10, Lương Văn H2 có hành vi mua ma túy của T4, L, Vũ Thanh T để sử dụng, nhưng không đủ căn cứ xử lý hình sự, Công an thành phố H đã xử phạt hành chính nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh và hình phạt:
    • - Tuyên bố: bị cáo Vũ Thanh T, Vũ Hoàng D1, Bùi Duy L, Nguyễn Văn T4, Hoàng Sơn T7 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
      • + Xử phạt bị cáo Vũ Thanh T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/6/2024.
      • + Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng D1 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/6/2024.
      • + Xử phạt bị cáo Bùi Duy L 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/6/2024.
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/6/2024.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng Sơn T7 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tình từ ngày 03/6/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • + Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định có trong các phong bì niêm phong số 822/KL-KTHS và 857/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q (loại ma túy và khối lượng ma túy thể hiện tại Kết luận giám định số 822 ngày 07/6/2024; 857/KL-KTHS ngày 12/6/2024);
      • + 03 cân điện tử; 01 lọ kim loại; 03 lọ thủy tinh; 103 vỏ túi nilon; 06 sim điện thoại thu của các bị cáo;
    • - Tịch thu phát mại sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Nguyễn Văn T4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Hoàng Sơn T7; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của Vũ Hoàng D1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Bùi Duy L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Vũ Thanh T.
    • - Trả lại anh Phạm Thái P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu vàng + 01 sim; trả lại anh Nguyễn Ngọc T10 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng + 01 sim.
    • Tình trạng vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng số 28 ngày 11/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
    • Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền như sau để sung nộp ngân sách Nhà nước, cụ thể: Vũ Thanh T phải nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng); bị cáo Nguyễn Văn T4 phải nộp 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng); bị cáo Vũ Hoàng D1 phải nộp 2.000.000đ (hai triệu đồng); bị cáo Bùi Duy L phải nộp 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
    • Trả lại bị cáo Vũ Thanh T số tiền 3.990.000đ (ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền số 423 ngày 04/7/2024 tại Ngân hàng thương mại cổ phần C3 chi nhánh Q3. Trả lại bị cáo Bùi Duy L số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) theo Giấy nộp tiền ngày 09/7/2024 tại Ngân hàng thương mại cổ phần C3 chi nhánh Q3.
  3. Về án phí: căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Vũ Thanh T, Vũ Hoàng D1, Bùi Duy L, Nguyễn Văn T4, Hoàng Sơn T7 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: án xử công khai, báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tt khác;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS – CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - TTG CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Hải Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thanh T cùng đồng phạm bị xét xử về tội "Mua bán, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger