|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-PT Ngày: 18-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Nguyễn Công Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 251/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Lâm Trọng T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo: Lâm Trọng T, sinh năm: 1974; tại: Hà Nội; nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ văn hoá: 8/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm T1, đã chết và bà Phạm Thị T2, có vợ là Trần Thị T3 và 02 người con lớn nhất sinh năm: 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số 207 ngày 18/01/2023 của Ủy ban nhân dân huyện L xử phạt 140.557.400đồng về hành vi khai thác rừng trái pháp luật, vận chuyển lâm sản và chế biến, mua bán lâm sản trái pháp luật; nhân thân: Tại bản án số 66/2009/HSST ngày 15/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng 20 ngày về tội: “Đánh bạc”. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này còn có những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 11/5/2024, Nguyễn Minh L đến nhà của Lâm Trọng T chơi. Trong lúc ngồi nói chuyện thì L nói với T là mình phát hiện tại khu vực rừng thông gần vườn cà phê của L ở thôn H, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng có mấy cây thông to, vừa đủ kích thước để xẻ gỗ đã bị ai đó cưa hạ, đã cắt ra thành lóng sẵn, có lấy gỗ thông về xẻ thì đến mà chở về làm. Sau đó, L chỉ đường cho T để đi đến vị trí các cây thông bị cưa hạ mà L đã biết trước đó. Lâm Trọng T nói với L là khi nào vào lấy gỗ thì T sẽ gọi cho L để đi cùng thì L đồng ý. Mục đích T lấy gỗ thông đưa về là để làm quán cho nhà mình. Sau đó, L đi về và ở lại chòi tại vườn cà phê của L thuộc thôn H, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Đến khoảng 20 giờ ngày 11/05/2024, Nguyễn Minh L gọi điện cho T để hỏi sáng mai có vào bốc gỗ không thì T nói với L là khoảng 5 giờ sáng ngày mai T sẽ vào bốc gỗ. L nói lại với T là khi nào vào tới thì gọi L biết để L hỗ trợ cùng. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, Lâm Trọng T thức dậy rồi một mình điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát 26C - 120.45 đến vị trí rừng thông tại lô A, khoảnh C, tiểu khu B thuộc địa giới hành chính thôn H, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng mà Nguyễn Minh L đã chỉ cho T có các cây thông bị cưa hạ trước đó. Lúc này, trên thùng xe ô tô của T có sẵn 2 con lăn bằng gỗ, 01 xà beng bằng kim loại, 01 cây dụng cụ nhổ đinh bằng kim loại có một dầu dẹp, 01 đầu nhổ đinh; 02 móc sắt; 01 cây gậy sắt hình trụ tròn. Đây là các dụng cụ mà T thường sử dụng để bê gỗ lên xe vì T làm nghề mộc, thường thu gom và vận chuyển gỗ.
Khi đi qua vườn cà phê của Nguyễn Minh L thì T dừng xe ở gần chòi cà phê và gọi L dậy nhờ đi cùng để bê gỗ phụ. Khi gặp nhau, L nói với T là tự đi xe vào trước còn L sẽ đi bộ vào sau. T điều khiển xe đi qua nghĩa trang và theo đường mòn vào trong rừng khoảng 100 mét thì thấy có một số cây thông đã bị cưa hạ, đường kính gốc trung bình từ 30cm đến 32cm, vết cắt cách mặt đất từ 48cm đến 90cm, cắt thành lóng sẵn. T quay đầu xe và đậu xe cách các cây thông bị cưa hạ khoảng 3m. Sau đó, T mở thùng xe lấy các dụng cụ để bốc gỗ xuống gồm: 01 xà beng, 02 con lăn bằng gỗ, 01 cây nhổ đinh, 02 con đỉa hình chữ U, 01 cây sắt hình trụ tròn. Lúc này, L đi bộ tới để cùng T bê gỗ lên thùng xe. T và L chọn các lóng cây to, có chiều dài khoảng 3m để lấy. T cầm cây xà beng, L cầm cây nhổ đinh rồi cùng lăn gỗ từ dưới lên thùng xe. Ban đầu, T và L lăn 04 lóng gỗ ở gần đến sát thùng xe. Sau đó, các đối tượng dùng các dụng cụ mang theo đưa 04 lóng gỗ lên thùng và xếp dọc thùng xe. Tiếp đó, hai đối tượng đi đến vị trí các lóng gỗ thông xa hơn, lăn thêm 02 lóng ra sau thùng xe rồi đưa gỗ lên thùng xe. Do có 01 lóng
3
dài hơn thùng xe khoảng 10cm nên T và L xếp chéo góc thùng lóng thông này để lọt thùng xe.
Sau đó, T điều khiển lùi xe ô tô tải biển kiểm soát 26C - 120.45 khoảng 10m rồi cùng L tiếp tục bốc thêm 03 lóng gỗ lên thùng xe. Trong 03 lóng gỗ trên có 01 lóng bị dài hơn thùng xe khoảng 10cm nên T và L xếp lóng gỗ này chéo góc thùng để lọt thùng tạo thành dấu X ở trên cùng so với lóng cây đã xếp trước đó. Sau khi xếp được 09 lóng gỗ thông lên thùng xe thì trời đã sáng, do lo sợ lực lượng chức năng đi tuần tra sẽ phát hiện nên không bốc thêm 06 lóng gỗ thông có đường kính trung bình từ 19cm đến 30cm, chiều dài 1m đến 8,5m nằm còn lại tại hiện trường nữa. Lúc này, T dùng đỉa đóng cố định 02 lóng gỗ ở phía trên lại để các lóng gỗ không bị lăn khi di chuyển rồi bỏ các dụng cụ đã mang theo lên thùng xe rồi đóng cửa thùng xe và điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 26C - 120.45 chở gỗ mang về nhà cất giấu. T điều khiển xe ô tô, L ngồi cùng và di chuyển theo hướng đường về hồ B thuộc thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Khi vừa điều khiển xe rời khỏi hiện trường thì bị tổ công tác phát hiện, truy đuổi. Biết đã bị lực lượng chức năng phát hiện nên T điều khiển xe ô tô tăng tốc bỏ chạy vào bãi đất phân lô thuộc tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng rồi nhảy khỏi xe và bỏ chạy. Sau đó, vì lo sợ nên T và L đã trốn khỏi địa phương.
Ngày 14/5/2024, Lâm Trọng T, Nguyễn Minh L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 09 lóng gỗ thông 3 lá nhóm 4 có đường kính trung bình từ 20 cm đến 28.5cm, chiều dài 3.2m; 06 lóng gỗ thông 3 lá nhóm 4 có đường kính trung bình từ 19cm đến 30cm, chiều dài 1m đến 8,5m; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, màu trắng, biển kiểm soát 26C - 120.45; 01 thanh kim loại dài 86cm có 01 đầu dẹp, 01 đầu để móc đinh; 01 thanh kim loại hình trụ tròn dài 58cm có 01 đầu có đường kính 2,4 cm, 01 đầu có đường kính 1,8cm; 01 thanh gỗ tròn dài 40cm, đường kính trung bình 6,5cm; 01 thanh gỗ tròn dài 42cm, đường kính trung bình 6,5cm; 01 thanh kim loại hình lục giác dài 137cm có 01 đầu nhọn và 01 đầu dẹp; 02 móc sắt hình chữ “U” kích thước 15cm x10cm.
Ngày 22/05/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L có bản kết luận số 43/KLĐG kết luận: 09 lóng gỗ thông 3 lá nhóm 4 có đường kính trung bình từ 20 cm đến 28,5 cm, chiều dài 3,2m có khối lượng 1,254m³ có giá trị là 1.505.000 đồng; 06 lóng gỗ thông 3 lá nhóm 4 có đường kính trung bình từ 19cm đến 30cm, chiều dài 1m đến 8,5m có khối lượng 0,954m³ có giá trị là 1.356.000 đồng.
Cáo trạng số 166/CT-VKS ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Lâm Trọng T về tội: “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ
4
rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2024/HS-ST; ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Lâm Trọng T phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lâm Trọng T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 19/11/2024, bị cáo Lâm Trọng T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm, không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo 03 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xét xử, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ để Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 12/05/2024, Lâm Trọng T đã có hành vi vận chuyển 09 lóng gỗ thông 3 lá, thuộc nhóm IV do Ban Q quản lý với khối lượng 1,254 m³ có giá trị lâm sản theo định giá của cơ quan chuyên môn là 1.505.000 đồng. Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác rừng trái pháp luật, vận chuyển lâm sản và chế biến, mua bán lâm sản trái pháp luật, bị cáo chưa chấp hành xong quyết định xử
5
phạt vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện hành vi vận chuyển trái phép lâm sản thì bị bắt quả tang.
Cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện chứng cứ, đối chiếu lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ, kết luận giám định; đã tuyên bố bị cáo Lâm Trọng T phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo không giam giữ của bị cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, tài nguyên thiên nhiên, rừng và lâm sản đang được pháp luật bảo vệ; Nhà nước rất chú trọng đẩy mạnh việc tuyên truyền hậu quả của việc phá rừng, Tại huyện L, tỉnh Lâm Đồng tình trạng phá rừng ngày càng diễn biến phức tạp, tính chất ngày càng đa dạng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến chế độ quản lý rừng của nhà nước, vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha là liệt sỹ, đồng thời sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú và áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lâm Trọng T kháng cáo, không xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Trọng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Lâm Trọng T phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lâm Trọng T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
6
2. Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lâm Trọng T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Hoài |
Bản án số 29/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 29/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Trọng T "VI phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản"
