|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày: 17 - 03 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc — |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hùng Tuấn;
Ông Trần Đình Đậu
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lan- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hải L, sinh ngày 13/12/2006 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ B, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1981, hiện đang chấp hành án tại Trại giam T; Mẹ đẻ: Bà Đoàn Thu H1, sinh năm 1981, hiện ở: Phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án: Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Hải L 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 22/9/2023 về tội “Cướp tài sản”.
- Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút, ngày 18 tháng 12 năm 2024, tổ công tác của Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc tổ F, khu B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên này tự khai nhận họ tên là Nguyễn Hải L, sinh năm: 2006, HKTT: Tổ B, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khi kiêm tra, L tự giác giao nộp cho cơ quan Công an 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng từ túi áo bên phải đang mặc và khai nhận đây là túi ma túy đá của L mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hải L, thu giữ và niêm phong gói ma tuý có đặc điểm như đã nêu trên theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ của L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng đã cũ, bị nứt vỡ, số IMEI: 357273098969894, kèm 01 sim trong máy số: 0982823465.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V đã Quyết định trưng cầu giám định đối với chất rắn dạng tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ thu giữ của L.
Tại Kết luận giám định số 1714/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,491 gam; là ma tuý, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, L khai nhận: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy đá, nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 18 tháng 12 năm 2024, L một mình đi xe ôm của người không quen biết đi đến khu vực xã C, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể). L hỏi và mua được của người này 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng). Sau đó, người này đi đâu làm gì L không biết, còn L cầm túi ma túy mua được đúc vào túi áo bên phải đang mặc rồi bắt xe ôm của một người không quen biết đi đến khu vực thuộc khu B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ xuống đi bộ, đi được một đoạn thì bị tổ công tác của Công an thành phố V phát hiện và tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên.
Về vật chứng, tài sản bị thu giữ: 01 (một) Bì niêm phong số 1714/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P là 0,433 gam ma túy còn lại hoàn trả sau giám định; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng đã cũ, bị nứt vỡ, số IMEI: 357273098969894, kèm 01 sim trong máy số: 0982823465 của L sử dụng liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên đã chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo Quyết định chuyển vật chứng, biên bản giao nhận vật chứng).
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hải L đã khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS -VT ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hải L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hải L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải L từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 124/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 60 tháng tù đến 63 tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ, tạm giam của Bản án 124/2023/HS-ST ngày 22/9/2023. Thời hạn tù được tính từ ngày 18/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng đã cũ, bị nứt vỡ, số IMEI: 357273098969894 của Nguyễn Hải L.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) Bì niêm phong số 1714/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P là mẫu vật còn lại hoàn trả sau giám định 0,433 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 sim trong máy số: 0982823465 không còn giá trị sử dụng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hải L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Cơ quan điều tra - Công an thành phố V; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hải L đã khai nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 18/12/2024 tại khu vực thuộc tổ F, khu B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Hải L có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,491 gam là ma tuý, loại Methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an thành phố V bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hải L đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 0,5 gam;"
Do vậy, Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hải L của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
[4]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án xét xử hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo về hành vi cướp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội trong thời gian đang chấp hành án.
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Hải L 36 (ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 22/9/2023 về tội “Cướp tài sản” chưa được xoá án tích nay lại phạm tội mới do cố ý. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
[7]. Về tổng hợp hình phạt: Trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quyết định tại Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì bị cáo lại phạm tội mới. Vì vậy, áp dụng khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 là 36 tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt trong bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Bị cáo được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam khi thực hiện hành vi phạm tội cướp tài sản từ ngày 13/3/2023 đến ngày 22/9/2023 . Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam khi thực hiện hành vi phạm tội mới
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần tài sản. Vì vậy, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với tài sản đang tạm giữ của bị cáo là 01 điện thoại di động.
[9] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy. Sim điện thoại trong máy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[11]. Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Hải L, do L không xác định được địa chỉ cụ thể, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được và không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1,5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 điều 56, khoản 5 Điều 65, Điều 38 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Hải L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải L 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 124/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt bị cáo Nguyễn Hải L về tội “Cướp tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (Năm) năm tù. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2023 đến ngày 22/9/2023 của bản án hình sự sơ thẩm số 124/2023/HS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt bị cáo Nguyễn Hải L về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 18/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng đã cũ, bị nứt vỡ đã qua sử dụng, số IMEI: 357273098969894 của Nguyễn Hải L không còn giá trị sử dụng.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) Bì niêm phong số 1714/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh P hoàn trả sau giám định bên trong có 0,433 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 thẻ sim số 0982823465 của Nguyễn Hải L.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 18/QĐ-VKS-VT ngày 24/02/2025 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hải L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương Giang |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hải L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
