NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ Cần Thơ, ngày 17 tháng 3 năm 2025 |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trãi
- Ông Bùi Quang Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, giữa ông và bà Phạm Thị Thanh T1 tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn lần đầu tại UBND phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ vào năm 2010, đến khoảng năm 2012 thì ông và bà T1 ly hôn. Đến năm 2015, ông và bà T1 quay lại chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78 Quyền số 01//2015 ngày 04/6/2015. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2023 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Ông và bà T1 hiện cũng đã sống ly thân với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên ông T đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Phạm Thị Thanh T1.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa ông T và bà T1 có với nhau 01 người con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày: 31/08/2011, sau khi ly hôn thì ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Trần Hoàng P đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Bản tự khai đề ngày 24/01/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị Thanh T1 trình bày:
Bà T1 thống nhất với lời trình bày của ông Trần Văn T về thời gian chung sống, quá trình hôn nhân, thời gian ly hôn và đăng ký kết hôn lại. Tuy nhiên, theo bà T1 nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, khác nhau về sở thích ăn uống nên không ăn chung, ngủ chung từ năm 2019 đến nay và một phần có mâu thuẫn với gia đình chồng.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn, bà không đồng ý do bà còn tình cảm với chồng và muốn con có đầy đủ tình thương của cha, mẹ. Con chung của ông T và bà T1 là cháu Trần Hoàng P bị mắc bệnh rối loạn thần kinh (Chẩn đoán: Rối loạn tác phong và cảm xúc khác thường khởi phát ở lứa tuổi trẻ em và thanh thiếu niên) nên cần có cha, mẹ cùng chăm sóc.
Bà T1 không đồng ý ly hôn nhưng nếu trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì bà T1 đồng ý giao cháu Trần Hoàng P cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành vì một mình bà không thể vừa chăm sóc con vừa đi làm được, ông T làm vườn tại nhà nên có thể chăm con. Bà không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án. Về tố tụng thì Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Còn về nội dung giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Phạm Thị Thanh T1. Về con chung, Trần Hoàng P, sinh ngày: 31/08/2011, đề nghị giao cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung thừa nhận không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Giữa ông Trần Văn T và bà Phạm Thị Thanh T1 là công dân Việt Nam, có chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay ông T yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với bà Phạm Thị Thanh T1, cư trú tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa hai vợ chồng và phải có trách nhiệm chăm sóc, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, giữa ông T và bà T1 không xây dựng hạnh phúc gia đình dựa trên nguyên tắc đó mà lại nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại giữa ông T và bà T1 cũng đã sống ly thân với nhau. Mặc dù được Tòa án nhiều lần hòa giải nhưng các bên không hàn gắn được, ông T vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu được ly hôn với bà T1. Điều đó cho thấy, ông T không còn thiết tha với cuộc hôn nhân này nữa. Bà T1 không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn, khắc phục mâu thuẫn. Cả hai người không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của ông T là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Giữa ông T và bà T1 có với nhau 01 người con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày: 31/8/2011, sau khi ly hôn, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Trần Hoàng P đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng. Bà T1 cũng đồng ý giao cháu P cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Mặc dù nguyện vọng của cháu P muốn được sống chung với mẹ nhưng Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu P đang sống ổn định với ông T, được ông T nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Ngoài ra, theo bà T1 trình bày do bà T1 đi làm cho công ty, không có điều kiện chăm sóc con, ông T làm vườn tại nhà nên có điều kiện chăm sóc con được tốt hơn. Do đó, xét thấy việc giao cháu P cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Thừa nhận không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn T được ly hôn với bà Phạm Thị Thanh T1.
- Về con chung: Giao cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 31/8/2011 cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Phạm Thị Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà T1, không ai được cản trở bà T1 thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí: Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai thu số 0002370 ngày 02/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành tiền án phí. Như vậy, ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Văn Trãi Bùi Quang Nghĩa | Trần Thị Bích Trương |
Bản án số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự; - Khoản 1 Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: 1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn Thiện được ly hôn với bà Phạm Thị Thanh Tâm. 2. Về con chung: Giao cháu Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 31/8/2011 cho ông Trần Văn Thiện trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Phạm Thị Thanh Tâm không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà Tâm, không ai được cản trở bà Tâm thực hiện quyền này. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết thành vụ kiện khác. 4. Về án phí: Ông Trần Văn Thiện phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Thiện đã nộp theo biên lai thu số 0002370 ngày 02/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành tiền án phí. Như vậy, ông Thiện đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. 5. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
