TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 29/2025/HSST Ngày: 14/3/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền T.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh H.
Bà Lê Thị N.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên T. - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Tường V. - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 28/02/2025 đối với:
* Bị cáo: Lê Trường S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1994 tại Bình Định; Nơi thường trú: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông Lê Trường S1 (sinh năm: 1966) và bà Ngô Thị H (chết).
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 15/11/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã A., tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/4/2017.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/9/2024, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số C đường K, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số C đường K, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Trường S là người làm việc và sinh sống tại nhà bà Trần Thị Bích T có địa chỉ C K, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (trước đây là phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng) từ năm 2017 đến nay nên biết bà T hay để tiền bán hàng trong phòng ngủ của bà T ở tầng 2. Khoảng 09h30' ngày 22/8/2023, khi thấy phòng ngủ của bà T không đóng cửa, bà T đang bán hàng ở tầng 1 nên S nãy sinh ý định trộm cắp tiền của bà T. Sinh đi vào phòng thấy két sắt mini, kích thước 0,23 x 0,17 x 0,17m, có gắn sẵn chìa khóa trong ổ khóa nên S lại mở két sắt thì thấy bên trong có một xấp tiền có nhiều mệnh giá 500.000đ, 200.000đ và 100.000đ; Sinh lén lút lấy hết số tiền này cất vào túi quần của mình rồi đi ra khỏi nhà. Sinh đi đến tiệm cầm đồ Quán H1 tại địa chỉ số D K, phường H, quận L do bà Nguyễn Thị Thanh T2 làm chủ thì gặp ông Nguyễn Xuân T1 và sử dụng tiền vừa trộm được chuộc lại xe máy hiệu Yamaha sirius biển kiểm soát 77F1-615.58 của S đã cầm cố tại đây từ tháng 5/2023 với giá 10.200.000đ từ ông T1. Sau đó S bỏ trốn về thuê phòng trọ để ở tại tỉnh Bình Định và kiểm tra tổng số tiền Sinh trộm cắp được trong két sắt của bà Trần Thị Bích T là 82.000.000đ và đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Đến ngày 23/9/2024, Lê Trường S đã đến Công an phường H đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp số tiền 82.000.000đ của bà Trần Thị Bích T.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS - TK ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Lê Trường S về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Trường S và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Trường S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trường S mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bà Trần Thị Bích T số tiền: 72.000.000đ.
- Ngoài ra, còn đề xuất xử lý về tiền án phí.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Trường S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại phòng ngủ của bà Trần Thị Bích T có địa chỉ C K, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; bị cáo Lê Trường S có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 82.000.000đ trong két sắt mini của bà Trần Thị Bích T. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, bị cáo S phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc tình tiết định khung là “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000đ đến dưới 200.000.000đ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 11/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo Lê Trường S là thanh niên có tuổi đời còn trẻ, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng không chịu tu dưỡng để làm ăn lương thiện nên đã phạm tội. Lợi dụng ở cùng nhà với bà Trần Thị Bích T, bị cáo S đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 82.000.000đ của bà T để tiêu xài cá nhân. Bị cáo S biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi ích trước mắt, bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tạo ra dư luận xấu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại để khắc phục hậu quả, bị cáo thành khẩn khai báo, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo S đến Công an phường H, quận L để đầu thú. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, tại phiên toà, bà T có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng bà T yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền 72.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 72.000.000đ cho bà T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị Bích T số tiền 72.000.000₫ .
[6] Vấn đề khác: Đối với ông Trần Xuân T3 chủ tiệm cầm đồ Quán Hộ 2, do không biết tiền bị cáo S sử dụng để chuộc lại xe máy đã cầm là do trộm cắp mà có nên không có cơ sở truy thu.
[7] Về án phí:
Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Trường S phải chịu 200.000đ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Trường S phải chịu: 72.000.000đ x 5% = 3.600.000₫.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trường S phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trường S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Lê Trường S có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trần Thị Bích T số tiền 72.000.000₫ (Bảy mươi hai triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Trường S phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Trường S phải chịu: 3.600.000₫ (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Bảo Huyền T. |
Bản án số 29/2025/HSST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 29/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại phòng ngủ của bà Trần Thị Bích T có địa chỉ C K, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; bị cáo Lê Trường S có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 82.000.000đ trong két sắt mini của bà Trần Thị Bích T.
