|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 14/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quang;
2. Ông Trần Hữu Lượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 14/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 27/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 03/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Hán Văn L, sinh ngày: 25/5/1981 tại huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hán Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1959; có vợ: Hà Thị V, sinh năm 1984 và 03 con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Có 01 tiền sự (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 105 ngày 06/12/2023 của Trưởng Công an huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Hán Văn L về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng, chấp hành xong ngày 10/02/2025).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
2. Trần Văn N, sinh ngày: 09/9/1992 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L1, sinh năm 1963 và bà Đỗ Thị T, sinh năm: 1960; Có vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1999 và 01 con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Có 02 tiền sự (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10 ngày 26/11/2024 của Trưởng Công an xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Văn N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11 ngày 19/12/2024 của Trưởng Công an xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Văn N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng, đều chưa thi hành).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
3. Khuất Văn K, sinh ngày: 10/01/1993 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Khuất Văn T1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1957; Có vợ: Lê Thị H, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
4. Khuất Tam S1, sinh ngày: 27/02/1981 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Khuất Kim K1 (đã chết) và bà Đỗ Thị V1, sinh năm: 1955; có vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981 và 02 con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Có 02 tiền sự (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07 ngày 14/7/2024 của Trưởng Công an xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt Khuất Tam S1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08 ngày 30/7/2024 của Trưởng Công an xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt Khuất Tam S1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng, đều chưa thi hành).
Nhân thân: Bản án số 15/2011/HSST ngày 29/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt Khu Ẩ 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và truy thu 120.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Ngày 13/12/2016 đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Khuất Văn T1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 23/12/2024, Hán Văn L, sinh năm 1981, cư trú tại thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc đón xe ô tô khách (không xác định được tên nhà xe, biển số đăng ký) từ nhà đến khu vực ngã ba thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích tìm mua ma túy về để bán cho người nghiện ma túy kiếm lời. Đến nơi L gặp và mua của 01 người đàn ông (không xác định được tên, tuổi và địa chỉ) được 02 túi, bên ngoài bằng túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy (H) với số tiền 8.000.000 đồng rồi cất giấu 02 túi ma túy trên người và đón xe ô tô khách (không xác định được tên nhà xe, biển số đăng ký) về nhà. Sau đó, L lấy 01 phần trong 01 túi ma túy ra để sử dụng (bằng hình thức đốt, hít vào cơ thể), phần còn lại và 01 túi ma túy L để trên mặt bàn trong phòng ngủ của mình.
Khoảng 11 giờ ngày 23/12/2024, Trần Văn N, sinh năm 1992, cư trú tại Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không có tiền mua nên N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, màu sơn đen- trắng, biển số 19C1-084.29 (Xe của N mua lại của một người không xác định được tên, tuổi và địa chỉ, chưa sang tên đổi chủ; Giấy đăng ký xe mang tên Đỗ Văn D, sinh năm 1988, cư trú tại thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ) đến nhà Khuất Tam S1, sinh năm 1981, cư trú tại khu F, xã P (là bạn nghiện ma túy với N), N hỏi S1 nếu S1 có tiền thì cùng đi mua ma túy về sử dụng, S1 đồng ý. Sau đó N điều khiển xe mô tô chở S1 ngồi sau đến khu vực cây xăng thuộc thôn K, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để mua xăng đổ vào xe mô tô của N. Do N và S1 không biết địa điểm mua ma túy nên N gọi điện thoại di động cho Khuất Văn K, sinh năm 1993, cư trú tại khu F, xã P (là bạn nghiện ma túy với N và S1) hỏi K: "Biết chỗ nào bán ma túy, anh em mình cùng nhau đi mua về chơi" (ý hiểu là mua ma túy về cùng nhau sử dụng), K đồng ý rồi đi xe ôm của 01 người đàn ông (không xác định được tên, tuổi và địa chỉ) từ nhà đến khu vực đầu cầu K gặp N và S1. Sau đó S1 đưa cho K 500.000 đồng để mua ma túy về sử dung chung, K sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Realme C20 lắp sim số thuê bao 0333.322.324 (trước đó K mượn điện thoại của bố đẻ là ông Khuất Văn T1, sinh năm 1955, cư trú tại khu F, xã P) gọi cho Hán Văn L (do K quen biết L từ trước) hỏi mua ma túy, L đồng ý.
Sau đó, K điều khiển xe mô tô biển số 19C1-084.29 chở N và S1 ngồi sau đến khu vực xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc thì K bảo N và S1 xuống xe, đứng ở ven đường đợi. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, K gọi điện thoại di động cho L và hai bên thỏa thuận hình thức mua bán ma túy. Khương gói 500.000 đồng vào chiếc khẩu trang và để vào cạnh gốc cây xoài gần nhà L rồi K điều khiển xe mô tô ra chỗ khác chờ lấy ma túy, còn L đến bàn trong phòng ngủ của mình chia từ 01 túi ma túy, bên ngoài bằng túi nilon màu trắng thành 01 gói nhỏ ma túy, bên ngoài được gói bằng giấy màu trắng đem ra để vào gần gốc cây xoài và cầm tiền về. Khoảng 05 phút sau, K quay lại cạnh gốc cây xoài cầm 01 gói ma túy do L bán cho rồi cất vào túi áo ngực phía trong bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô ra chỗ N và S1 đứng để đón, K nói: "Mua được ma túy rồi, đi tìm chỗ nào sử dụng", N và S1 đồng ý. Sau đó K điều khiển xe mô tô chở N và S1 ngồi sau để tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy, khi đến đoạn đường Đ thuộc thôn P, xã T, huyện S thì bị Tổ công tác của Công an huyện S đang làm nhiệm vụ phát hiện và tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, tạm giữ gồm: Thu trên người Khương 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (K khai là ma túy mua của Hán Văn L mua về cùng N và S1 sử dụng chung); 01 xe mô tô biển số 19C1-084.29; 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu ITEL màu đen (của Trần Văn N); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C20 màu xanh lắp sim số 0333.322.324 và 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu Viettel màu đen (của Khuất Văn K).
Khoảng 18 giờ cùng ngày, L tiếp tục chia 01 phần ma túy từ 01 gói ma túy, bên ngoài bằng túi nilon màu trắng thành 01 gói nhỏ ma túy, bên ngoài gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng và cất giấu tại túi áo khoác bên phải trên người mục đích có ai hỏi mua thì bán kiếm lời, phần ma túy còn lại L để ở mặt bàn trong phòng ngủ của mình. Sau đó L đi bộ trên đoạn đường thuộc thôn T, xã H, huyện S thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với L về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Tổ công tác tiến hành lập Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp hồi 18 giờ 10 phút cùng ngày, phát hiện và thu giữ tại túi áo khoác bên phải của L đang mặc 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng, L khai là H1.
Hồi 20 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hán Văn L, phát hiện và thu giữ 02 túi, bên ngoài bằng nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất bột vón cục màu trắng ở trên bàn trong phòng ngủ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, bên trong lắp sim số 0967.496.826 và số tiền 3.250.000 đồng ở đầu giường trong phòng ngủ của L.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Hán Văn L, Trần Văn N, Khu Ẩ, Khuất Văn K đều dương tính (+) với ma túy (Có chất ma túy trong cơ thể).
Tại Kết luận giám định số 61/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định (thu trên người Khuất Văn K) là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng 0,217g (Không phẩy hai một bảy gam).
Tại Kết luận giám định số 62/KL-KTHS ngày 28/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu M1(thu trên người Hán Văn L) và M2 (thu tại nơi ở của L) gửi giám định đều là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; tổng khối lượng 3,988g (Ba phẩy chín tám tám gam).
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tạm giữ 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật Hán Văn L giám định ngày 24/12/2024"; 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Khuất Văn K, Khu Á, Trần Văn N giám định ngày 24/12/2024”; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng đen biển số 19C1-084.29 (của Trần Văn N); 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu ITEL màu đen (của Trần Văn N); 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0967.496.826 (của Hán Văn L); 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme C20 màu xanh lắp sim số 0333.322.324 và 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu Viettel màu đen (của Khuất Văn K) đều đã qua sử dụng; Số tiền 3.250.000 đồng (của Hán Văn L) đã gửi tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện S mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S.
Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKSSD ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Hán Văn L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Trần Văn N, Khuất Văn K, Khuất Tam S1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Hán Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hán Văn L từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.
- Tuyên bố các bị cáo Trần Văn N, Khuất Văn K, Khu Ẩ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Khuất Văn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xử phạt bị cáo Khuất Tam S1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/12/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật Hán Văn L giám định ngày 24/12/2024”; 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Khuất Văn K, Khu Á, Trần Văn N giám định ngày 24/12/2024".
Trả lại cho bị cáo Trần Văn N 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu ITEL màu đen; Trả lại bị cáo Hán Văn L 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0967.496.826; Trả lại cho bị cáo Khuất Văn K 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu Viettel màu đen; Trả lại cho bị cáo Trần Văn N 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng đen biển số 19C1-084.29. (Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án).
Trả lại cho ông Khuất Văn T1 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme C20 màu xanh lắp sim số 0333.322.324.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Hán Văn L. Trả lại bị cáo Hán Văn L số tiền 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). (Theo Uỷ nhiệm chi, chuyển khoản số 8, lập ngày 28/02/2025 giữa đơn vị trả tiền Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang với đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).
Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, nói lời sau cùng các bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ trên đây đủ cơ sở kết luận:
Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hán Văn L: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/12/2024, tại khu vực thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Hán Văn L, sinh năm 1981, cư trú tại thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý (loại Heroine), khối lượng 0,217g (Không phẩy hai một bảy gam) cho Khuất Văn K, sinh năm 1993, cư trú tại khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Ngoài ra, L còn có hành vi tàng trữ trái phép 3,988g (Ba phẩy chín tám tám gam) Heroin trên người và tại nơi ở của mình, với mục đích bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Khuất Văn K, Trần Văn N, Khu A: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2024, tại khu vực thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Khuất Văn K, sinh năm 1993 và Khuất Tam S1, sinh năm 1981 cùng cư trú tại khu F, xã P và Trần Văn N, sinh năm 1992, cư trú tại Khu D, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,217g (Không phẩy hai một bảy gam) Heroine, mục đích để sử dụng chung (Trong đó vai trò của N là người rủ rê, chuẩn bị xe mô tô đi mua ma túy, S1 là người chuẩn bị tiền mua ma túy và K là người trực tiếp mua ma túy của Hán Văn L để sử dụng chung).
Hành vi của bị cáo Hán Văn L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Trần Văn N, Khuất Văn K, Khuất Tam S1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ.
[2] Về tính chất của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của nhà nước, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm khác. Bị cáo Hán Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội do hám lời. Bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác để xứng đáng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Các bị cáo Trần Văn N, Khuất Văn K và Khuất Tam S1 đồng phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên các bị cáo là đồng phạm giản đơn đều là người nghiện ma túy rủ nhau đi mua ma túy về cùng sử dụng không có sự bàn bạc, thống nhất trước. Do đó, tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo là như nhau. Các bị cáo phải chịu mức án nghiêm khắc là cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp đối với từng bị cáo.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo L, N, S1 có nhân thân xấu. Bị cáo L có 01 tiền sự, bị cáo N có 02 tiền sự, bị cáo S1 có 02 tiền sự và đã bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 15/2011/HSST ngày 29/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo K có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Trần Văn N có mẹ đẻ là bà Đỗ Thị T có Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến và bố đẻ là ông Trần Văn L1 tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật Hán Văn L giám định ngày 24/12/2024"; 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Khuất Văn K, Khu Á, Trần Văn N giám định ngày 24/12/2024”, đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng đen biển số 19C1-084.29 và 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu ITEL màu đen của bị cáo Trần Văn N; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0967.496.826 của bị cáo Hán Văn L; 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu V2 màu đen của bị cáo Khuất Văn K đều đã qua sử dụng là tài sản dùng trong sinh hoạt hàng ngày của các bị cáo, không sử dụng thường xuyên vào việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
Trong số tiền 3.250.000 đồng Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Hán Văn L: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo L phạm tội mà có (tiền bán ma túy cho Khuất Văn K). Số tiền 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền của bị cáo L không phải tiền do phạm tội mà có nên trả lại cho bị cáo.
Đối với 01chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme C20 màu xanh lắp sim số 0333.322.324 là tài sản của ông Khuất Văn T1, ông T1 không biết bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho ông Khuất Văn T1.
[6] Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho Hán Văn L ngày 23/12/2024 tại khu vực ngã ba thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Do không xác định được tên, tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với ông Khuất Văn T1 (bố đẻ bị can Khuất Văn K) cho K mượn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi C20, bên trong lắp sim 0333.322.324 nhưng không biết việc K sử dụng điện thoại để liên lạc với Hán Văn L để mua trái phép chất ma túy nên không đề cập, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hán Văn L ngày 23/12/2024, tại thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc và của Khuất Văn K, Trần Văn N, Khu Á vào ngày 22/12/2024 tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Ngày 23/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S có Công văn số 150, 151 chuyển tài liệu liên quan đến Trưởng Công an huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc và Trưởng Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với Trần Văn N có hành vi mua xe mô tô biển số 19C1-084.29 (Đăng ký xe mang tên anh Đỗ Văn D, sinh năm 1988, cư trú tại thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ) của một người không xác định được tên, tuổi và địa chỉ vào năm 2023 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ, Cơ quan điều tra đã có Công văn chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ để xem xét, xử lý theo quy định.
[7] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Hán Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Trần Văn N, Khuất Văn K, Khu Ẩ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Hán Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/12/2024).
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Trần Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/12/2024).
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Khuất Văn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/12/2024); Xử phạt: bị cáo Khuất Tam S1 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/12/2024).
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật Hán Văn L giám định ngày 24/12/2024”; 01 phong bì niêm phong, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Khuất Văn K, Khu Á, Trần Văn N giám định ngày 24/12/2024”.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn N 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu ITEL màu đen; Trả lại bị cáo Hán Văn L 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0967.496.826; Trả lại cho bị cáo Khuất Văn K và 01 điện thoại di động bàn phím bấm số nhãn hiệu Viettel màu đen; Trả lại cho bị cáo Trần Văn N 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng đen biển số 19C1-084.29. (Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án).
- Trả lại cho ông Khuất Văn T1 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme C20 màu xanh lắp sim số 0333.322.324.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
- Tịch thu của bị cáo Hán Văn L sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Trả lại bị cáo Hán Văn L số tiền 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). (Theo Uỷ nhiệm chi, chuyển khoản số 8, lập ngày 28/02/2025 giữa đơn vị trả tiền Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang với đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Hán Văn L, Trần Văn N, Khuất Văn K, Khu Ẩ mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/3/2025)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Huyền Trang |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hán Văn L + Đp
