|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST |
Ngày: 14/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Thị Luân;
- Bà Pang Ting Suyl – Giáo viên Trường PTDT Nội trú huyện Lâm Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Rung K’Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/HSST-QĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đoàn Văn N – Tên gọi khác: không; sinh năm: 2001; tại: Lâm Đồng; nơi thường trú: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện nay: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Đoàn Văn A và bà Nguyễn Thị L; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam L thuộc Công an tỉnh L. Có mặt.
- Họ và tên: Lương Khắc T – Tên gọi khác: không; sinh ngày: 17/4/2008; tại: Thanh Hóa; nơi thường trú: thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Lương Khắc T1 (đã chết) và bà Phạm Thị Q; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam L thuộc Công an tỉnh L. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp; người bào chữa cho bị cáo Lương Khắc T, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Khắc M, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2
Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 00 ngày 22/11/2024, Đoàn Văn N, sinh năm 2001; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và Lương Khắc T, sinh năm 2008; nơi thường trú: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng rủ nhau đến khu vực thôn T, xã T, huyện L để tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu dream, không rõ biển số chở theo N đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn T, xã T, huyện L tìm kiếm tài sản. Khi cả hai đi ngang qua nhà của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu trắng - nâu - đen, biển kiểm soát 49D1-723.05 đang để trong sân. Lúc này, N đứng ngoài đường nhựa phía trước nhà cảnh giới để T đi vào sân lấy trộm xe. Khi T vào đến sân, quan sát xung quanh không có ai thì T đi đến vị trí xe mô tô biển kiểm soát 49D1-723.05 thì phát hiện xe mô tô này không khóa cổ, không có chìa khóa cắm trên xe. Sau đó, T lén lút dắt xe ra ngoài đường nhựa gần vị trí mà N đang đứng. Do không có chìa khóa nên cả hai không nổ được máy nên T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu dream rồi cùng N dìu xe biển kiểm soát 49D1-723.05 vừa lấy trộm được đi đến một căn nhà tôn không có người ở thuộc thôn H, xã T, huyện L để tìm cách nổ máy xe. Khi đến nơi, Tân dắt xe mô tô biển kiểm soát 49D1-723.05 vào cất giấu tại hiên của căn nhà, do không có dụng cụ phá khóa nên cả hai đi về nhà của N thuộc thôn Đ, xã T, huyện L để nghỉ ngơi. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, N lấy 01 tuốc nơ vít có sẵn trong nhà rồi cùng T đi đến vị trí đang cất giấu xe mô tô biển kiểm soát 49D1-723.05 để tìm cách nổ máy. Tại đây, N sử dụng tuốc nơ vít tháo phần vỏ của đầu xe để tìm cách nổ máy, còn T đứng ở ngoài đường bê tông để cảnh giới. Khi T đang tìm cách để nổ máy xe thì nghe thấy tiếng của xe ô tô đi đến nên cả hai cùng nhau bỏ chạy và bỏ lại chiếc xe tại hiện trường.
Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/11/2024, T và N cùng nhau đi đến khu vực thôn T, xã T, huyện L để tìm kiếm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi cả hai đi bộ ngang qua căn nhà của ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện L thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 49AC-025.42 đang để trong sân, cửa cổng không khóa nên bàn bạc với nhau sáng ngày hôm sau sẽ đến lấy trộm. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 01/12/2024, N cùng T đi bộ đến nhà của ông Nguyễn Văn M1 thì thấy xe mô tô biển kiểm soát 49AC-025.42 vẫn đang để trong sân, cửa cổng không khóa. Sau đó N đứng ở ngoài đường bê tông phía trước căn nhà cảnh giới,
3
còn T lén lút mở cửa cổng và tiến đến vị trí xe mô tô biển kiểm soát 49AC-025.42 để kiểm tra thì phát hiện chìa khóa vẫn đang được cắm trên ổ khóa, T quan sát xung quanh không có ai trông coi nên đã dắt xe mô tô trên ra ngoài đường bê tông rồi điều khiển xe chở N về nhà. Sau khi lấy được xe mô tô trên thì T và N sử dụng để làm phương tiện đi lại. Đến sáng ngày 15/12/2024, khi cả hai cùng nhau điều khiển xe mô tô trên đi xung quanh địa bàn xã T để đi tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản thì bị Công an huyện L phát hiện, đưa về trụ sở làm việc, đồng thời thu giữ toàn bộ tang vật. Tại cơ quan Công an N1 và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng nâu đen, biển kiểm soát số 49D1-723.05; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, loại 50RS, màu đỏ đen, biển kiểm soát số 49AC - 025.42.
Ngày 18/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L có bản kết luận số 82/KLĐG kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng nâu đen, biển kiểm soát số 49D1-723.05 có giá trị là 26.500.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, loại 50RS, màu đỏ đen, biển kiểm soát số 49AC - 025.42 có giá trị là 8.500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Ngày 20/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng nâu đen, biển kiểm soát số 49D1-723.05 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1992; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, loại 50RS, màu đỏ đen, biển kiểm soát số 49AC - 025.42 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn M1, sinh năm: 1985; nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Đoàn Văn N, Lương Khắc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Người đại diện hợp pháp, đồng thời là Người bào chữa cho bị cáo Lương Khắc T đồng ý với tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại ông Nguyễn Văn M1 không có yêu cầu gì về phần dân sự.
Bị hại chị Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo Đoàn Văn N phải bồi thường cho chị số tiền chi phí chị bỏ ra để sửa chữa chiếc xe mà các bị cáo chiếm đoạt là 2.500.000₫.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì.
4
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đoàn Văn N; Lương Khắc T về tội: “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đoàn Văn N từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 15/12/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Lương Khắc T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 15/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Đoàn Văn N và bị hại Nguyễn Thị H về việc bị cáo Đoàn Văn N bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H số tiền là 2.500.000₫
Về xử lý vật chứng: Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ đã trả lại cho các bị hại nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Đề nghị buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đoàn Văn N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 22/11/2024 và ngày 30/11/2024, bị cáo Đoàn Văn N và bị cáo Lương Khắc T đã cùng có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng nâu đen, biển kiểm soát số 49D1-723.05 có giá trị là 26.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị H; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, loại 50RS, màu đỏ đen, biển kiểm soát số 49AC - 025.42 có giá trị là 8.500.000 đồng của ông Nguyễn Văn M1. Như vậy,
5
đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Đoàn Văn N, Lương Khắc T cùng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố.
[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội tại địa phương.
[4] Về vai trò của các bị cáo: các bị cáo cùng bàn bạc, cùng thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản nên các bị cáo có vai trò ngang nhau.
[5] Các bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và cả hai lần đều cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lương Khắc T là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Bị cáo Lương Khắc T phạm tội trong độ tuổi từ 16 đến chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng Điều 91 của Bộ luật hình sự để xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Từ những nhận định, phân tích, đánh giá nêu trên, xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo N, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để trừng trị bị cáo, để bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật. Đồng thời để đảm bảo công tác đấu tranh và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Lương Khắc T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế, đáng ra cần xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt không phải là hình phạt tù có thời hạn nhưng do bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng nên cũng cần phải áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát để đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cần áp dụng khoản 1 Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên để xem xét, quyết định mức hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp.
[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo N có khó khăn về kinh tế; bị cáo T là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[10] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn Thị H cho rằng chiếc xe các bị cáo chiếm đoạt của chị thì các bị cáo đã làm hư hỏng một phần nên chị phải đi sửa chữa, tổng chi phí 5.000.000đ, gia đình bị cáo Lương Khắc T đã bồi thường cho chị số
6
tiền là 2.500.000đ, chị yêu cầu bị cáo Đoàn Văn N phải bồi thường cho chị số tiền là 2.500.000đ, bị cáo Đoàn Văn N đồng ý nên cần ghi nhận.
Bị hại ông Nguyễn Văn M1 xác định đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 chiếc xe các bị cáo chiếm đoạt, cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị hại, các bị hại xác định đã nhận lại xe và không có thắc mắc gì nên không xem xét.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đoàn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Hà
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn N; Lương Khắc T cùng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
- Xử phạt bị cáo Lương Khắc T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Đoàn Văn N bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị H số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
7
Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Đoàn Văn N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người bào chữa cho bị cáo Lương Khắc T; người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Khắc T; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/3/2025) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trung Kiên |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Nam cùng đồng phạm (Trộm cắp tài sản)
