|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/HS-PT
Ngày: 10/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết và bà Nguyễn Thị Hương Giang.
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên.
Ngày 10/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 296/2024/TLPT-HS ngày 05/12/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị D, Vũ Thị Ngọc Á do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị D, Vũ Thị Ngọc Á đối với bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HSST ngày 2/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2024/QĐPT-HS ngày 20/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐPT-HS ngày 02/01/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 15/2015/HSPT-QĐ ngày 23/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 33/2025/HSPT-QĐ ngày 21/02/2025.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thị D, sinh năm 1989.
- Họ và tên: Vũ Thị Ngọc Á, sinh năm 1998.
Nơi ở thường trú: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi tạm trú và nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 07/12. Con ông Nguyễn Đăng V, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960 .Chồng: Nguyễn Tiến T, sinh năm 1983. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2018.
Nhân thân: Bản án số 92/2014/HSST ngày 27/10/2014, Toà án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Chứa mại dâm”. Chấp hành xong tiền án phí ngày 20/7/2015, hình phạt tù ngày 01/12/2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú ngày 11/5/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại, (có mặt tại phiên tòa).
Nơi ở thường trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở hiện tại: tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Vũ Đình B, sinh năm 1979. Con bà Bùi Thị H1, sinh năm 1978. Chồng Nguyễn Đăng C, sinh năm 1994 (đã ly hôn). Bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2024.
Nhân thân: Ngày 21/6/2021 bị Công an huyện L xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú ngày 11/5/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
* Vụ án còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 11/5/2024, tại nhà nghỉ P ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L phát hiện bắt quả tang tại phòng 203 và phòng 204, tầng 2 của nhà nghỉ 02 đôi nam nữ đang có hành vi mua bán dâm, cụ thể:
Tại phòng 203, đối tượng mua dâm là Tăng Văn T1, sinh năm 1993 trú tại thôn N, xã Y, huyện L và đối tượng bán dâm là Lò Thị H2, sinh năm 2005 trú tại Bản K, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên.
Tại phòng 204, đối tượng mua dâm là Đinh Văn H3, sinh năm 1998 trú tại thôn H, xã T, huyện L và đối tượng bán dâm là Quàng Thị S, sinh năm 1994 trú tại bản Kéo Sáo, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La.
Vật chứng thu giữ: 01 bao cao su chưa sử dụng nhãn hiệu Doctor tại phòng 203; 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Water clotus tại phòng 204.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Thị Ngọc Á tại thôn Đ, xã T, huyện L, thu giữ: Số tiền 1.505.000 đồng (trong đó có 700.000 đồng Á khai là tiền của 02 đối tượng mua dâm trả) và 01 đầu thu camera nhãn hiệu @Jhua.
Cùng ngày, Quàng Thị S giao nộp: Số tiền 100.000 đồng (là tiền Á đưa cho S để trả tiền nhà nghỉ cho S và H2 đi bán dâm).
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Nguyễn Thị D, sinh năm 1989, trú tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang kinh doanh quán karaoke, lấy biển hiệu Vân Vụ có địa chỉ thôn Đ, xã T, huyên L, tỉnh Bắc Giang. Từ tháng 5 năm 2024, D thuê Lường Thị H4, sinh năm 2005 trú tại Bản K, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; Quàng Thị S, sinh năm 1994 trú tại Bản K, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La; Tòng Thị H5, sinh năm 1993 trú tại bản H, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên; Vũ Thị H6, sinh năm 2000 trú tại thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái và Sầm Thị H7, sinh năm 2001 trú tại thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái làm nhân viên phục vụ quán (H5, H6, S, H7 có hợp đồng lao động, H4 không có hợp đồng lao động). Do công việc bưng bê dọn dẹp thu nhập thấp nên D có thoả thuận với các nhân viên về việc khi khách đến quán có nhu cầu mua dâm thì D sẽ môi giới khách mua dâm cho nhân viên bán dâm, cụ thể mỗi lần khách có nhu cầu mua dâm thì D sẽ điều nhân viên đi bán dâm với giá 350.000 đồng/ lượt (trong đó 50.000 đồng tiền nhà nghỉ, còn 300.000 đồng thì D và nhân viên bán dâm mỗi ngưởi 150.000 đồng). Giữa D và các nhân viên còn thỏa thuận khi D thu tiền của khách thì sau khi nhân viên bán dâm xong D sẽ trả lại tiền cho nhân viên và ngược lại khi D không có mặt ở quán thì các nhân viên tự đi bán dâm và trực tiếp thu tiền của khách, sau đó về chia lại cho D tiền.
Ngày 10/5/2024, Vũ Thị Ngọc Á, sinh năm 1998 trú tại thôn L, xã T, huyện L (là em dâu của D) đến quán karaoke Vân V1 chơi và ngủ lại. Theo Á khai do thường xuyên đến quán karaoke V2 Vụ chơi nên Á biết việc D thường xuyên môi giới cho nhân viên đi bán dâm với giá 350.000 đồng/ lượt. Trưa ngày 11/5/2024, Nguyễn Thị D đi ngủ trưa và nhờ Á trông quán hộ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Á đang trông quán thì có Đinh Văn H3, sinh năm 1998 trú tại thôn H, xã T, huyện L và Tăng Văn T1, sinh năm 1993 trú tại thôn N, xã Y, huyện L đến K Vân Vụ đặt vấn đề với Á cho 02 nhân viên để H3 và T1 mua dâm, Á đồng ý. Sau đó Á gọi nhân viên lên thì H3 và T1 chọn H4 và S để mua dâm. H3 hỏi giá mua dâm thì Á nói là 350.000 đồng/ 01 lần/ 01 người. Sau đó H3 đưa cho S số tiền 1.000.000 đồng trả tiền mua dâm, S đưa cho Á rồi Á đưa lại cho S 300.000 đồng để trả lại H3 và 100.000 đồng để S trả tiền nhà nghỉ 02 phòng. Sau đó S lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo BKS 98E1-203.47 chở H4 xuống nhà nghỉ P để bán dâm cho H3 và T1. Đến nhà nghỉ không thấy ông Chu Trọng H8, sinh năm 1972 ở thôn Đ, xã T, huyện L (là chủ nhà nghỉ) nên S và H4 tự đi lên tầng 2 tìm phòng, sau đó H4 đưa T1 vào phòng 203, còn S đưa H3 vào phòng 204 để quan hệ tình dục. Khi các đối tượng đang quan hệ tình dục thì bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Cùng ngày Nguyễn Thị D và Vũ Thị Ngọc Á đã đến Công an huyện L đầu thú.
Về vật chứng: 01 bao cao su chưa sử dụng nhãn hiệu Doctor; 01 bao cao su chưa sử dụng và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Water; 01 đầu thu camera màu đen nhãn hiệu @jhua; số tiền 1.605.000 đồng đã được nhập vào tài khoản tạm gửi của Công an huyện L mở tại Kho bạc nhà nước huyện L; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu xanh- trắng, BKS: 98E1-203.47 Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Thị D và Vũ Thị Ngọc Á đã khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Duyên và Vũ Thị Duyên về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 328 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 03 (ba) năm tù về tội “ Môi giới mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt Thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000₫ sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 328 điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điều 54 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Á 02 (hai) năm tù về tội "Môi giới mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt Thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Á.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 28/9/2024, bị cáo Nguyễn Thị D và Vũ Thị Ngọc Á kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Thị D trình bày: bị cáo xác định án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ già, con nhỏ, bị cáo còn có trách nhiệm trông con cho bị cáo Á, mũi bị cáo bị hoại tử nhưng bị cáo không cung cấp được bệnh án.
- Bị cáo Vũ Thị Ngọc Á trình bày: bị cáo xác định án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo vì con bị cáo còn quá nhỏ, chồng ly hôn, bố bỏ đi, một mình bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo lại sắp đến ngày sinh. Đề nghị cho bị cáo được ở nhà để làm việc chăm sóc, nuôi nấng các con.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm 106/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo Nguyễn Thị D.
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Vũ Thị Ngọc Á. Sửa bản án sơ thẩm 106/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc Á.
Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 328 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 03 (ba) năm tù về tội “ Môi giới mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt Thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000đ sung quỹ Nhà nước.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị D đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Á 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "Môi giới mại dâm”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Vũ Thị Ngọc Á cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Các bị cáo nói lới sau cùng:
- Bị cáo D đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo Á đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị D, Vũ Thị Ngọc Á nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
- [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
- Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
- Như vậy, hành vi của Nguyễn Thị D và Vũ Thị Ngọc Á đủ yếu tố cấu thành của tội “Môi giới mại dâm”. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đủ 18 tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [3]. Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy:
- Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo D là người có vai trò chính trong vụ án, bị cáo là là người thuê các nhân viên, thỏa thuận từ trước với các nhân viên nữ về việc môi giới khách cho các nhân viên nữ đi bán dâm, bị cáo được thu lợi bất chính từ việc các nhân viên đi bán dâm.
- Về nhân thân của các bị cáo:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị D xuất trình tài liệu, chứng cứ mới là Biên lai nộp số tiền 10.200.000đ tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Thị Ngọc Á nộp trích lục ly hôn, bị cáo có Giấy ra viện thể hiện bị cáo có thai, doạ đẻ non và có đơn thuốc, chuẩn đoán dạ dày, tá tràng. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho các bị cáo.
- Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị D thì thấy: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, có vai trò chính trong vụ án, thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích lợi nhuận; năm 2014 bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm” nhưng bị cáo vẫn chưa lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, tuy nhiên Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo bị cáo Nguyễn Thị D 03 (ba) năm tù về tội “Môi giới mại dâm” là ở mức khởi điểm của khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị D như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Thị Ngọc Á thì thấy: bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo có 04 con nhỏ cần được chăm sóc, bản thân bị cáo hiện đang mang thai, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.. Bị cáo vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, không được hưởng lợi gì từ việc giúp sức cho D. Căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa phúc thẩm đã đề nghị nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
- [4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị D không được chấp nhận nên bị cáo D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- [5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Buổi chiều ngày 11/5/2024 tại quán K, có địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Thị D đã thỏa thuận trước đó với nhân viên được tự đi bán dâm và thu tiền của khách đã nhờ Vũ Thị Ngọc Á trông quán và nhân viên để đi ngủ trưa. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày Á đã môi giới cho Lò Thị H2 bán dâm cho Tăng Văn T1 và Quàng Thị S bán dâm cho Đinh Văn H3, thu lợi bất chính số tiền 700.000 đồng. Khi các đối tượng S đang bán dâm cho H3 tại phòng 204 và H2 đang bán dâm cho T1 tại phòng 203 tầng 2 nhà nghỉ P ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đối với bị cáo Á là đồng phạm với bị cáo D, bản thân bị cáo không được hưởng lợi ích gì từ hành vi môi giới mại dâm, số tiền bị cáo thu của khách mua dâm bị cáo cũng không được hưởng vì hành vi của bị cáo là giúp trông quán hộ bị cáo D nên bị cáo có vai trò giúp sức cho bị cáo D.
Bị cáo D có nhân thân xấu: năm 2014 đã bị đưa ra xét xử về tội “Chứa mại dâm” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Bị cáo Á đã bị xử phạt hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đầu thú; bị cáo D được UBND xã T tặng giấy khen trong phong trào xóa nhà tạm; bị cáo Á có ông ngoại là ông Bùi Thế C1 được Nhà nước tặng huân chương chiến sĩ giải phóng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần được áp dụng khi lượng hình đối với các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của phát luật.
Bị cáo Vũ Thị Ngọc Á đang mang thai nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xét thấy mức hình phạt 02 (hai) năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Do kháng cáo của bị cáo Vũ Thị Ngọc Á được chấp nhận nên bị cáo Á không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm 106/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo Nguyễn Thị D.
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Vũ Thị Ngọc Á. Sửa bản án sơ thẩm 106/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc Á.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 03 (ba) năm tù về tội “ Môi giới mại dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt Thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000₫ sung quỹ Nhà nước.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị D đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai số 0003217 ngày 30/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Á 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Môi giới mại dâm” thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm
Giao bị cáo Vũ Thị Ngọc Á cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
* Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Vũ Thị Ngọc Á không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
Bản án số 29/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (môi giới mại dâm)
- Số bản án: 29/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 10/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 296/2024/TLPT-HS ngày 05/12/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị D, Vũ Thị Ngọc Á do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị D, Vũ Thị Ngọc Á đối với bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HSST ngày 2/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2024/QĐPT-HS ngày 20/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐPT-HS ngày 02/01/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 15/2015/HSPT-QĐ ngày 23/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 33/2025/HSPT-QĐ ngày 21/02/2025.
