Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 29/2025/HSST

Ngày: 27/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Sơn - Giáo viên
  2. Ông Trần Văn Em

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hiệu- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Ngô Ngọc P; Tên gọi khác: B.Giới tính: nam.Sinh năm: 2001.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn L, xã H, H, Bình Thuận.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không;

    Nghề nghiệp: Công nhân.

    Trình độ học vấn: 10/12.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Cha: Ngô Ngọc H, sinh năm 1974.

    Mẹ: Phan Thị Thanh N, sinh năm 1976.

    Hiện cùng trú tại thôn L, xã H, huyện H, Bình Thuận.

    Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.

    Bị cáo bị bắt ngày 11/10/2024, hiện đang tạm giam nhà tạm giữ Công an huyện H.

  2. Châu Văn H1; Giới tính: nam. Sinh ngày 28/6/2008.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện H, Bình Thuận.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không;

    Nghề nghiệp: Làm thuê.

    Trình độ học vấn: 05/12.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Cha: Bùi T (Đã chết)

    Mẹ: Châu Thị Bích V, sinh năm 1984.

    Hiện đang làm nông và trú tại thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

    Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba.

    Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  3. Nguyễn Ngọc N1; Giới tính: nam. Sinh ngày 16/9/2007.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện H, Bình Thuận.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không;

    Nghề nghiệp: không.

    Trình độ học vấn: 09/12.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Cha: Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1978

    Hiện trú tại thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

    Mẹ: Dụng Thị H2, sinh năm 1980.

    Hiện trú tại thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

    Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba.

    Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo H1: Bà Châu Thị Bích V, sinh năm 1984(có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người bào chữa theo pháp luật cho bị cáo H1: Bà Châu Thị Bích T1, năm năm 2004 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật đồng thời là người bào chữa theo pháp luật cho bị cáo N1: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1978(có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua nguồn tin của quần chúng nhân dân, lúc 20 giờ 10 phút ngày 07/09/2024, Công an xã H kiểm tra tại phòng ngủ của Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 16/9/2007, ở thôn L, xã H, huyện H, phát hiện N1 cùng Ngô Ngọc P (B), sinh năm 2001 và Châu Văn H1, sinh ngày 28/6/2008, cùng trú tại thôn L, xã H, huyện H có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, Công an xã H phát hiện trong phòng ngủ của N1 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, cao 11,2cm, đường kính đáy 04cm, đường kính miệng chai 2,5cm, viền nắp chai màu đỏ, nắp chai có đục 02 lỗ tròn bên trên, 01 lỗ gắn đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng dài 14cm, 01 lỗ gắn đoạn ống thủy tinh màu trắng dài 19cm được thổi phồng một đầu thành hình tròn; 01 chiếc bật lửa gas màu tím. Công an xã H tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc, thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng có liên quan về trụ sở làm việc. Qua làm việc, Nguyễn Ngọc N1, Ngô Ngọc P và Châu Văn H1 khai nhận như sau:

Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 07/9/2024, Châu Văn H1 cất giấu 01 gói ma túy trong người rồi điều khiển xe mô tô biển số 86H6 - 1668 từ nhà đến nhà Ngô Ngọc P. Khi đến gặp P, H1 hỏi: “cái nỏ đâu?”, P trả lời: “có đây” rồi H1 rủ P đi đến nhà Nguyễn Ngọc N1 để sử dụng ma túy, P đồng ý và mang theo nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy. Sau đó, H1 điểu khiển xe mô tô biển số 86H6 – 1668, P điều khiển xe mô tô biển số 86B3-523.32 đến nhà N1. Khoảng 20 giờ cùng ngày, H1 và P đến nhà N1 thì chỉ có mình N1 ở nhà, sau đó cả ba đi vào phòng ngủ của N1. Lúc này, P lấy nỏ thủy tinh trong người ra, còn H1 lấy trong người 01 chiếc bật lửa gas màu tím và 01 tép ma túy đá. N1 hiểu là P và H1 muốn sử dụng ma túy nên N1 lấy ra 01 chai nhựa màu trắng, viền nắp chai màu đỏ, nắp chai có đục 02 lỗ hình tròn, trong đó một lỗ đã gắn sẵn 01 đoạn ống nhựa màu trắng đưa cho P. P lấy nỏ gắn vào lỗ còn lại trên nắp chai, còn H1 lấy tép ma túy đá ra đưa cho P. P cắt một đầu tép ma tuý rồi đổ ma túy vào nỏ, sau đó cả ba lấy bật lửa gas màu tím của H1 đốt ma túy thay phiên nhau hút, mỗi người hút được khoảng hai đến ba hơi thì hết ma túy trong nỏ. Sử dụng ma túy xong, P và H1 đứng dậy chuẩn bị đi về thì bị Công an xã H phát hiện, kiểm tra, lập biên bản ghi nhận sự việc, tạm giữ những đồ vật có liên quan và mời H1, P, N1 về trụ sở làm việc như trên. Về nguồn gốc ma túy, H1 khai nhận do H1 mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân) ở khu vực Vòng xoay 1, thuộc phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận trước đó khoảng 02 tuần với số tiền 200.000 đồng.

Tiến hành xét nghiệp ma túy đối với Nguyễn Ngọc N1, Ngô Ngọc P và Châu Văn H1 ngày 07/9/2024, kết quả N1, P, H1 đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng trong vụ án:

01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, viền nắp chai màu đỏ, nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn đoạn ống thủy tinh uốn cong, phình một đầu; 01 chiếc bật lửa gas màu tím. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý. Đối với 01 xe môtô, loại Sirius, biển số 86H6-1668, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Châu Thị Bích V (mẹ của Châu Văn H1); 01 xe mô tô biển số 86B3-523.32 là tài sản của ông Ngô Ngọc H (cha của Ngô Ngọc P). Do không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H đã trả lại xe cho bà V, ông H theo đúng quy định.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSHTB ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố các bị cáo Ngô Ngọc P, Châu Văn H1 và Nguyễn Ngọc N1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngô Ngọc P từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;
  • -Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Châu Văn H1 từ 05 năm 06 tháng đến 05 năm 09 tháng tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N1 từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.
  • */Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a,c khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa màu trắng, viền nắp chai màu đỏ, nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn đoạn ống thủy tinh uốn cong, phình một đầu; 01 chiếc bật lửa gas màu tím.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội, đồng ý với lời luận tội của kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. người đại diện theo pháp luật và người bào chữa theo pháp luật cho các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Căn cứ buộc tội bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 07/9/2024, tại nhà Nguyễn Ngọc N1 ở thôn L, xã H, huyện H, Nguyễn Ngọc N1 (16 tuổi, 11 tháng, 22 ngày), Ngô Ngọc P và Châu Văn H1 (16 tuổi, 02 tháng, 10 ngày) đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với nhau. Cụ thể: Nguyễn Ngọc N1 cung cấp địa điểm là phòng ngủ của mình, chai nhựa, ống hút để ghép với nỏ thủy tinh của Ngô Ngọc P thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy, sau đó P đổ ma túy do Châu Văn H1 cung cấp và dùng bật lửa gas màu tím của H1 đốt lên để cả ba cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý.

Xét các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, các bị cáo phải ý thức được M1 là những loại ma tuý, là loại độc dược gây nghiện mà nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng ... Đây là mầm móng phát sinh các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng do có nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép ma túy.

Do vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “ Đối với 02 người trở lên” và “ Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017)

Do đó, Cáo trạng số 09/CT-VKSHTB ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo theo khung hình phạt và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, sống tuân theo pháp luật, các quy tắc của cuộc sống và phòng ngừa tội phạm chung.

[3]. Xét tính chất, mực độ, vai trò phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với bị cáo H1 là người trực tiếp cung cấp ma túy, bị cáo P chuẩn bị nỏ thủy tinh lắp ghép thành bộ sử dụng ma túy, sau đó đổ ma túy do H1 cung cấp vào nỏ và dùng bật lửa gas màu tím đốt, bị cáo N1 cung cấp địa điểm là phòng ngủ của mình, chai nhựa, ống hút để cùng nhau tổ chức sử dụng nên cả 03 bị cáo phải chịu trách nhiệm ngang nhau và chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo với hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo P có nhười thân có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo H1 và bị cáo N1 khi phạm tội là người chưa thành niên nên áp dụng Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt cho hai bị cáo.

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân huyện H đã phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[6] Trên cơ sở cân nhắc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất nguy hiểm cho xã hội nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án: 01 bộ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, viền nắp chai màu đỏ, nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn đoạn ống thủy tinh uốn cong, phình một đầu; 01 chiếc bật lửa gas màu tím là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng và không được phép lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Các vấn đề khác: Châu Văn H1 khai nhận nguồn gốc ma túy H1 mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân) ở khu vực Vòng xoay 1, thuộc phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục xác minh, lãm rõ, xử lý sau.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với tất các các bị cáo; thêm khoản 2 khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo P; thêm Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo H1 và bị cáo N1.

*Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Ngọc P, Châu Văn H1 và Nguyễn Ngọc N1 cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt: Bị cáo Ngô Ngọc P 07(bảy) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/10/2024.

* Xử phạt: Bị cáo Châu Văn H1 05(năm) năm 07(bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc N1 05(năm) năm 07(bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

*Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a,c khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, viền nắp chai màu đỏ, nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn đoạn ống thủy tinh uốn cong, phình một đầu; 01 chiếc bật lửa gas màu tím

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc).

* Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Ngô Ngọc P, Châu Văn H1 và Nguyễn Ngọc N1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho bị cáo và người bào chữa theo pháp luật cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án( 27/02/2025).

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện HTB;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Hơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 29/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Ngọc Phương - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger