Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Trang
  2. Ông Vũ Tiến Thịnh

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Hiển - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 21/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:

Hà Thị S, sinh ngày 15/8/1960 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn N và bà Bùi Thị N1 (Đều đã chết); Có chồng là Phạm Ngọc B (Đã chết); Bị cáo có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1980, con nhỏ nhất sinh năm 1992); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1945; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình (đã chết)

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Bà Phạm Thị H, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
  • + Anh Nguyễn Văn B2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
  • + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số nhà E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà H, anh T và anh B2: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

* Người làm chứng:

  • - Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1949; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  • - Ông Trần Văn C, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  • - Bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1950; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 05/10/2024, Hà Thị S (có giấy phép lái xe còn thời hạn theo quy định số [...] do Sở G cấp ngày 08/8/2017, khi tham gia giao thông không có nồng độ cồn trong cơ thể) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION có dung tích 108cm³ sơn màu xanh, mang biển kiểm soát 17B9 - 262.78, trên đường liên xã hướng xã Đ đi xã Đ, thành phố T. S điều khiển xe mô tô đi ở vị trí giữa đường liên xã, khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc địa phân thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình - khu vực đối diện cửa hàng tạp hóa nhà bà Bùi Thị Đ thì gặp ông Nguyễn Văn B1 đi bộ từ cửa hàng tạp hóa nhà bà Đ sang ngang qua đường liên xã (hướng từ phải sang trái sang theo chiều đi của S), đoạn đường có mặt đường liên xã láng đá nhựa phẳng thẳng rộng 0,6m, không bị hạn chế tầm nhìn. Lúc này, ông B1 đi bộ ra đến vị trí giữa đường liên xã, do Hà Thị S điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 20 – 30km/h, không chú ý quan sát, không đi về bên phải theo chiều đi của mình, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường dẫn đến mặt lăn má lốp bên phải bánh trước va chạm với mặt trước trong 2/3 dưới cẳng chân phải, mặt ngoài cạnh bên phải chắn bùn bánh trước va chạm với tay trái ông B1 làm ông B1 đổ ngã xuống đường. Xe mô tô do Hà Thị S điều khiển đổ nghiêng sang trái rê trượt trên đường. Hậu quả, ông B1 bị thương tích được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Bệnh viện V - Hà Nội. Đến ngày 07/10/2024, ông B1 tử vong tại gia đình do chấn thương sọ não, xe mô tô của Hà Thị S bị hư hỏng nhẹ.

Biên bản khám nghiệm tử thi, bản ảnh tử thi Nguyễn Văn B1 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ngày 07/10/2024 và kết luận giám định tử thi số 1522/KLGĐTT - KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận giám định tử thi ông Nguyễn Văn B1 kết luận: Khám ngoài: Trên tử thi có vết sây sát da rách da, dập trợt da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt, vai, tay và chân và khám trong: Vỡ xương sọ vùng chẩm phải, chảy máu não. Kết luận: Nạn nhân Nguyễn Văn B1 chết do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định số 1561/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tại thời điểm giám định, hàng chữ, chữ số đóng trên khung xe và thân máy xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, sơn màu xanh, biển số 17B9 - 262.78 không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người đại diện hợp pháp của bị hại đều không có ý kiến khiếu nại gì về các kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 26/CT-VKSTPTB ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố bị cáo Hà Thị S về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hà Thị S đã thành khẩn khai báo, rất ăn năn hối cải và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố.

Anh Nguyễn Văn H1 trình bày: Anh đồng ý nhận uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của ông B1 tham gia tố tụng, gia đình ông B1 đã nhận được 90.000.000 đồng của bị cáo bồi thường và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất kì một khoản chi phí nào khác, toàn bộ những người đại diện hợp pháp của bị hại đều uỷ quyền cho anh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Thị S và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thị S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo hà Thị S từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và những người đại diện hợp pháp của bị hại. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập ngày 06/10/2024; Biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ngày 06/10/2024; Biên bản khám nghiệm tử thi, bản ảnh tử thi Nguyễn Văn B1 và Kết luận giám định tử thi số 11522/KLGĐTT-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 05/10/2024 tại đường liên xã thuộc thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Hà Thị S (có giấy phép lái xe theo quy định, không sử dụng rượu bia hay chất kích thích mạnh khác) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison, màu sơn: Xanh, biển số 17B9 - 262.78 đi trên đường liên xã hướng xã Đ đi xã Đ, thành phố T. Do Hà Thị S không chú ý quan sát, không đi về bên phải theo chiều đi của mình, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường nên đã làm mặt lăn má lốp bên phải bánh trước xe mô tô do S điều khiển và mặt ngoài cạnh bên phải chắn bùn bánh trước va chạm với mặt trước trong 2/3 dưới cẳng chân phải, tay trái ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1945, trú tại thôn H, xã Đ, thành phố T đang đi bộ qua đường. Hậu quả ông B1 bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu và tử vong tại gia đình do chấn thương sọ não. Hành vi nêu trên của Hà Thị S đã đã vi phạm vào khoản 23, Điều 8, khoản 1, Điều 9; khoản 1, Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (quy định cụ thể tại khoản 6, Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ). Theo quy định tại Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, hành vi của Hà Thị S đã vi phạm khoản 28 Điều 9; khoản 1 Điều 10; điểm a khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 làm ông Nguyễn Văn B1 tử vong. Hành vi đó đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 8. Luật giao thông đường bộ năm 2008. Các hành vi bị nghiêm cấm

"1...

23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện

Điều 9. Quy tắc chung

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Điều 12. Luật giao thông đường bộ năm 2008. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe.

“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo”.

Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Các trường hợp phải giảm tốc độ

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

1...

6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường;

Điều 9. Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Các hành vi bị nghiêm cấm

“1...

28. Hành vi khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ quy định tại Chương II của Luật này”.

Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Quy tắc chung.

“1. Người tham gia giao thông đường bộ phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định, chấp hành báo hiệu đường bộ và các quy tắc giao thông đường bộ khác”.

Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe

“1...

3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi có vạch kẻ đường hoặc báo hiệu khác dành cho người đi bộ hoặc tại nơi mà người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường;”.

Điều 260 Bộ luật hình sự tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn ở nơi có đường giao nhau nên xe mô tô của Hà Thị S điều khiển đã va chạm với ông Nguyễn Văn B1, dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng của ông Nguyễn Văn B1. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Hà Thị S về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bị hại có một phần lỗi khi ông Nguyễn Văn B1 khi đi bộ sang đường đã không chú ý quan sát vi phạm khoản 3, Điều 32 Luật giao thông đường bộ nay là khoản 1, 2 Điều 30 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại nơi cư trú dưới sự giám sát của chính quyền địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo nhưng cũng đủ để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường gia đình bị hại số tiền 90.000.000 đồng, những người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn B1 đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kể một khoản chi phí nào khác nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 585, 586, 590, 591 Bộ luật Dân sự chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường nói trên.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, sơn màu xanh, BKS 17B9-262.78, số máy: JF66E0219931, số khung: 5818GY219877, xe đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 024933 mang tên Hà Thị S Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về vấn đề này. Đối với giấy phép lái xe số [...], hạng A1 của Hà Thị S, do Sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 08/8/2017 còn thời hạn sử dụng xét thấy không cần thiết phải quản lý nên trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thị S phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Thị S 01 (Một) năm 03 (ba) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hà Thị S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585, 586, 590, 591 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Hà Thị S bồi thường xong số tiền 90.000.000 đồng cho những người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn B1.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trả lại cho bị cáo Hà Thị S giấy phép lái xe số [...], hạng A1 của Hà Thị S do Sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 08/8/2017.

(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/01/2025).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Hà Thị S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/02/2025, những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người đại diện hợp pháp
  • của bị hại;
  • - VKSND TP Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP Thái Bình;
  • - Công an TP Thái Bình;
  • - Công an tỉnh Thái Bình (PC10, PV06);
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Đông Thọ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Xuân Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Thị S - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger