Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 26-02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Luận

Ông Phạm Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương - Thư ký viên chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Trần Xuân H sinh ngày 14 tháng 10 năm 1974 tại Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà H, đường N, phố V, phường T, thành phố N (nay là phường V, thành phố H) tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân H1 (Đã chết), con bà Phan Thị N; có vợ Nguyễn Thị D và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân (01): Quyết định số 1889 ngày 14/7/2005 của UBND thị xã N, tỉnh Ninh Bình đưa đối tượng vào Trung tâm chữa bệnh, G thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong ngày 30/3/2008); bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 đến ngày 14/9/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
  2. Bị cáo Nguyễn Tiến D1 sinh ngày 27 tháng 9 năm 1977 tại Ninh Bình. Nơi ĐKHKTT: Số nhà A, đường C, phố F, phường Đ, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà C, ngõ A, đường P, phố C, phường V, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, con bà Trần Thị T; có vợ Nguyễn Thị Bích N1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 đến ngày 14/9/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
  3. Bị cáo Trần Đình L1 sinh ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà E, đường T, phố P, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Xuân C (Đã chết), con bà Nguyễn Thị Y; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân (13): Quyết định số 110/QĐ-UB ngày 28/4/2003, Ủy ban nhân dân thị xã N ra Quyết định đưa Trần Đình L1 vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong ngày 07/4/2005). Bản án số 30/2006/HSST ngày 04/4/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình, Trần Đình L1 bị xử phạt 27 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong ngày 04/12/2007). Bản án số 83/2008/HSST ngày 19/8/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, Trần Đình L1 bị xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong ngày 21/05/2010). Bản án số 176/2010/HS-ST ngày 22/12/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, Trần Đình L1 bị xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong ngày 14/4/2013). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 27/12/2013, Trần Đình L1 bị Công an phường N, thành phố N xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Hết thời hiệu thi hành). Quyết định số 4376/QĐ-UBND ngày 31/12/2013, Ủy ban nhân dân thành phố N ra Quyết định đưa Trần Đình L1 vào trường cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong ngày 17/3/2016). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC ngày 23/7/2016, Trần Đình L1 bị Công an phường V, thành phố N xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Hết thời hiệu thi hành). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 46/QĐ-XPHC ngày 10/8/2016, Trần Đình L1 bị Công an phường N, thành phố N xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Hết thời hiệu thi hành). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPHC ngày 30/8/2016, Trần Đình L1 bị Công an phường N, thành phố N xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Hết thời hiệu thi hành). Bản án số 145/2016/HSST ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, Trần Đình L1 bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong ngày 12/8/2017). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC ngày 02/4/2018, Trần Đình L1 bị Công an phường N, thành phố N xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Hết thời hiệu thi hành). Bản án số 104/2018/HSST ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, Trần Đình L1 bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong ngày 05/6/2019). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC ngày 29/12/2020, Trần Đình L1 bị Công an thành phố N xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” (Hết thời hiệu thi hành). Bản án số 20/2021/HSST ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, Trần Đình L1 bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong ngày 05/5/2021); bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 đến ngày 14/9/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
  4. Bị cáo Nguyễn Việt T1 (Tên gọi khác Nguyễn Hoàng Việt T1) sinh ngày 30 tháng 01 năm 1979 tại Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ C, đường T, phố T, phường T, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Cao T2, con bà Đào Thị X; có vợ Vũ Thị H2 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân (07): Quyết định số 1672/QĐ-UB ngày 26/12/1997, Ủy ban nhân dân tỉnh N quyết định đưa Nguyễn Việt T1 vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 12 tháng. Quyết định số 291/QĐ-UB ngày 07/02/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh N quyết định đưa Nguyễn Việt T1 vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 18 tháng (Chấp hành xong ngày 2/9/2003). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24 ngày 08/6/2004, Công an phường P, thành phố N xử phạt 100.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong năm 2004). Quyết định số 14/QĐ-UB ngày 16/6/2004, Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã N quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Việt T1 trong thời hạn 06 tháng. Bản án số 49/2005/HS-ST ngày 03/02/2005 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình xử phạt Nguyễn Việt T1 bị 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong ngày 14/02/2006). Quyết định số 993/QĐ-UBND ngày 04/7/2007, Ủy ban nhân dân thành phố N quyết định đưa Nguyễn Việt T1 vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong ngày 06/7/2009). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ/XPVPHC ngày 02/8/2010, Công an phường T, thành phố N xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong ngày 02/8/2010); bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 đến ngày 14/9/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
  5. Bị cáo Vũ Văn Bình S ngày 19 tháng 5 năm 1974 tại Ninh Bình. Nơi ĐKHKTT: Phố B, phường T, thành phố N (nay là phường V, thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Phố P, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L2 (Đã chết), con bà Nguyễn Thị T3; có vợ Phan Thị H3 và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024 đến ngày 14/9/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vũ Công Đ, sinh năm 1973, nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Xuân H là người sử dụng ma tuý. Khoảng 20 giờ ngày 03/9/2024 H thuê xe ôm đến khu vực gần bến xe thành phố N tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và bán lại cho những người nghiện để kiếm lời. Tại đây, H gặp và hỏi mua được của một người nam giới 01 túi má túy đá được gói bằng 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ kích thước khoảng (5x8)cm, bên trong có chất tinh thể màu trắng với giá 800.000 đồng. H mang gói ma tuý về nhà, lấy một ít ma túy đá cho vào coóng thủy tinh để sử dụng cho bản thân, số ma túy đá còn lại H cất giấu vào túi quần đang mặc nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ 09 giờ ngày 04/9/2024 đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Trần Xuân H đã 04 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Đình L1, Vũ Văn B, Nguyễn Tiến D1 và Nguyễn Việt T1; sau khi bán ma túy, H còn để cho L1, B, D1 và T1 sử dụng ma túy tại nhà của mình ở số nhà H, đường N, phố V, phường T, thành phố N (nay là phường V, thành phố H), tỉnh Ninh Bình, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 04/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L1 đi xe đạp đến nhà H để mua ma túy đá. Tại đây, L1 nói với H “Anh để cho em ít đá em làm vài khói” - ý L1 hỏi mua ma túy đá của H để sử dụng, Hiệp đồng ý. L1 đưa cho H số tiền 190.000 đồng, H cầm tiền rồi lấy một ít ma tuý đá bên trong túi ma túy đá của mình cho vào trong coóng thuỷ tinh của bộ D4 sử dụng ma tuý đá ở phòng cuối tầng 1 nhà H bán cho L1 để L1 sử dụng luôn tại nhà H. L1 lấy bật lửa đốt ma tuý lên và sử dụng, sau đó H cũng tự sử dụng ma tuý đá này cùng L1. H và L1 ngồi sử dụng ma tuý cùng nhau đến khi hết ma tuý trong coóng.

Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên B đi bộ đến nhà H để mua ma túy đá. Tại đây, B nói với H “Anh bán cho em 490.000 đồng đồ” - ý B hỏi mua 490.000 đồng ma túy đá của H để sử dụng, Hiệp đồng ý. Sau đó, B đưa cho H số tiền 490.000 đồng, H cầm tiền và lấy một ít ma tuý đá bên trong túi ma túy đá của mình cho vào ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 2,5cm, gắn hai đầu lại rồi đưa cho B. B cầm và dùng kéo cắt một đầu ống, đổ một ít ma tuý đá bên trong ống cho vào coóng thuỷ tinh (là bộ dụng cụ sử dụng ma tuý mà H và L1 vừa sử dụng) rồi B tự lấy bật lửa đốt ma tuý lên và sử dụng. Sau đó, B hàn lại đầu ống hút chứa số ma tuý còn lại và cất giấu vào túi quần phía sau bên trái của mình. Sau đó, B và H sử dụng hết số ma tuý bên trong coóng, L1 không sử dụng ma tuý đá mà B vừa đổ ra.

Lần thứ ba: Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, D1 sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0966.722.286 gọi đến số điện thoại 0986.766.xxx của H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, Hiệp đồng Ý và nói D1 đến nhà H để lấy ma túy. D1 điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Toyota Vios biển kiểm soát 35A-145.11 đến nhà H, đến nơi thì bà Phan Thị N (mẹ của H) ra mở cửa và nhờ D1 chở xuống chùa ở phường N, thành phố N. D1 chở bà N đi sau đó quay lại nhà H. Lúc này H ra mở cửa, D1 vào phòng khách tầng 1 đưa cho H số tiền 300.000 đồng để mua ma túy đá của H như đã thỏa thuận từ trước, H cầm tiền rồi lấy 01 cục ma túy đá trong túi ma túy của mình gói vào 01 tờ giấy trắng có chữ viết đưa cho D1. D1 cầm cục ma túy đá rồi bẻ một nửa đưa lại cho H và nói “Anh cầm hộ tí em về em chơi” - ý D1 nói H giữ hộ D1 một nửa số ma túy đá này để sau đó D1 quay lại sử dụng tại nhà H, Hiệp đồng Ý. Sau đó D1 điều khiển xe ô tô đi.

Lần thứ tư: Khoảng 14 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X biển kiểm soát 35B2-635.06 đến nhà H với mục đích để mua ma túy. Khi đến nhà H thì T1 thấy H, L1 và B đang ở trong phòng phía cuối tầng 1. T1 nói H “Em vừa đi Thanh Hoá về chưa kịp uống thuốc anh có trắng lấy hộ về anh em mình chơi” - ý T1 nói H có ma tuý Heroine không thì lấy hộ về T1 và H sử dụng, H nói “Anh không chơi cái đấy, bảo L1 lấy cho” ý H nói không có ma túy H4, T1 hỏi L1 xem. Sau đó, T1 nói với L1 “Hết bao nhiêu tiền”, L1 trả lời là 300.000 đồng (lúc này chỉ có T1 và L1 biết). Một lúc sau T1 nói với H “em không có tiền mặt em chuyển cho anh 700.000 đồng, anh đưa cho L1 300.000 đồng, còn 400.000 đồng anh lấy đồ cho em nhá” ý T1 bảo H bán cho T1 400.000 đồng ma túy đá. Sau khi T1 chuyển khoản số tiền 700.000 đồng cho H thì H và L1 đi ra ngoài phòng khách còn T1 và B ngồi trong phòng cuối tầng 1. H đưa cho L1 số tiền 300.000 đồng theo lời của T1 nhưng H không biết mục đích T1 nhờ đưa tiền cho L1 để làm gì. Khi H đưa tiền cho L1 xong thì quay lại phòng cuối tầng 1 xúc một ít ma túy đá trong túi ma túy của mình cho vào coóng thủy tinh bán cho T1 để T1 sử dụng luôn tại nhà H. Lúc này D1 quay lại nhà H, H lấy số ma túy đá mà D1 đã mua và gửi lại trước đó cho vào coóng thủy tinh để D1 sử dụng luôn tại nhà H. Sau đó, H, D1, T1, B cùng nhau sử dụng số ma túy trong coóng. Sau khi L1 cầm 300.000 đồng của T1 thì L1 đi đến khu vực bờ đê sông Đ thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để tìm mua ma túy. Tại đây L1 gặp và hỏi mua 01 gói Heroine được gói ngoài bằng lớp giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng của một người nam giới với giá 300.000 đồng. L1 cất giấu vào túi quần bên phải phía trước rồi quay về nhà H, trên đường về L1 vào một hiệu thuốc mua 02 chiếc xilanh nhựa để sử dụng ma tuý cùng T1. Khi L1 về đến nhà H thì B ra mở cửa cho L1.

Hồi 14 giờ 35 phút ngày 04/9/2024, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy phối hợp với Công an phường T, thành phố N tiến hành kiểm tra cư trú tại số nhà H, đường N, phố V, phường T, thành phố N. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có Trần Xuân H, Vũ Văn B, Trần Đình L1, Nguyễn Tiến D1, Nguyễn Việt T1 và chị Nguyễn Thị D (vợ của H).

Tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở đối với Trần Xuân H tại số nhà H, đường N, phố V, phường T, thành phố N. Thu giữ của Nguyễn Tiến D1 số tiền 900.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0966.722.286 và 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios biển kiểm soát 35A-145.11. Thu giữ của Vũ Văn B 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung không lắp sim; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 2,5cm được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất tinh thể màu trắng tại túi quần bên trái phía sau B đang mặc. Thu giữ của Trần Đình L1 số tiền 220.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0382.883.665 và sim số 0788.075.823; 01 chiếc xe đạp mini màu đỏ và 02 chiếc xi lanh loại 03ml chưa qua sử dụng. Thu giữ của Nguyễn Việt T1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X biển kiểm soát 35B2-635.06.

Khám xét tại phòng thứ nhất (phòng khách): Thu giữ tại nền nhà cách vị trí L1 ngồi khoảng 20cm có 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước khoảng (1x2)cm bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Thu giữ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0986.766.679 tại mặt bàn cạnh chân cầu thang. Thu giữ số tiền 1.650.000 đồng tại vị trí góc tường cách bậc cầu thang thứ nhất khoảng 60cm. Thu giữ 02 túi nilon đều màu trắng, miệng túi có viền màu đỏ, kích thước khoảng (5x8)cm (01 túi chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi bám dính chất tinh thể màu trắng) tại bậc thứ năm cầu thang lên tầng 2, niêm phong vào phong bì ký hiệu K9.

Khám xét tại phòng thứ tư (phòng cuối tầng 1) từ cửa vào: Thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0947.520.xxx; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi lắp sim số 0987.522.758 và sim số 0898.581.132; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung trên mặt bàn gỗ kê trong phòng. Thu giữ 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 20cm, nắp chai màu xanh đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa dài khoảng 40cm, một lỗ cắm ống thuỷ tinh một đầu hình phễu bên trong chứa chất tinh thể màu trắng ngà tại nền nhà góc tường phía bên trái từ cửa vào (niêm phong chiếc ống thuỷ tinh vào phong bì ký hiệu K13).

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 2,5 cm được hàn kín hai đầu thu giữ của Vũ Văn B có khối lượng 0,180 gam (ký hiệu M1); khối lượng chất bột dạng cục màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước khoảng (1x2)cm thu của Trần Đình L1 có khối lượng 0,135 gam (ký hiệu M2); khối lượng chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có viền màu đỏ, kích thước khoảng (5x8)cm thu của Trần Xuân H có khối lượng 0,740 gam (ký hiệu M3) và 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đỏ, kích thước khoảng (5x8)cm bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4); 01 ống thuỷ tinh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng ngà (được niêm phong trong phong bì ký hiệu K13) để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 778/KL-KTHS-MT ngày 12/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

  • Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng là 0,1646 gam, ký hiệu M3 có khối lượng là 0,7214 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine.
  • Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon ký hiệu M4 và chất tinh thể màu trắng ngà bám dính trong ống thủy tinh một đầu hình phễu ký hiệu K13 đều là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng Methamphetamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

  • Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 0,1360 gam là ma túy, loại Heroine.

Heroine (H5) có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma túy thuộc Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

H6 lại đối tượng giám định gồm số ma túy còn lại sau giám định, 01 vỏ túi nilon ký hiệu M4 và 01 đoạn ống thủy tinh một đầu hình phễu.

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định trong khoảng thời gian từ ngày 27/8/2024 đến ngày 04/9/2024, Nguyễn Tiến D1 đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Công Đ, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng gần 11 giờ ngày 27/8/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Vũ Công Đ sử dụng số điện thoại 0941.728.xxx gọi đến số điện thoại 0966.722.xxx của D1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine. Lúc này, D1 đang đứng cùng với người nam giới tên S1 (D1 không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể), biết S1 là người bán ma túy Heroine nên D1 hỏi S1 “Có bán ba trăm nghìn Heroine không”, S1 trả lời “Có”. Sau đó D1 trả lời Đ là đồng ý bán cho Đ 500.000 đồng Heroine. Đoàn hẹn D1 mang ma túy đến cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh N tại đường T, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình để bán, D1 đồng ý. D1 lấy 300.000 đồng đưa cho S1, S1 cầm tiền và đưa lại cho D1 01 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. D1 lấy một nửa số ma túy trong gói ra để sử dụng, số ma túy còn lại D1 gói lại và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios biển kiểm soát 35A-145.11 đến địa điểm đã hẹn với Đ. Khi đến nơi gặp Đ, D1 dừng xe lại, Đ mở cửa xe ô tô và ngồi ở ghế phụ phía trước. D1 đưa cho Đ 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng, Đ cầm gói ma túy và đưa cho D1 số tiền 500.000 đồng rồi xuống xe. Đoàn mang gói ma túy Heroin vừa mua được đi sử dụng hết.

Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 04/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Vũ Công Đ sử dụng số điện thoại 0941.728.xxx gọi đến số điện thoại 0966.722.xxx của D1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine và 300.000 đồng ma túy đá, D1 đồng ý. Đoàn hẹn D1 mang ma túy đến cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh N cho Đ. Sau đó D1 gọi điện cho người nam giới tên S1 hỏi mua 300.000 đồng ma túy Heroine, S1 đồng ý và hẹn D1 đến chân cầu vượt T4 để lấy ma túy. D1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios biển kiểm soát 35A-145.11 đi đến điểm hẹn thì thấy S1 đang đứng ở ven đường, D1 dừng xe kéo cửa kính xuống đưa cho S1 300.000 đồng, S1 cầm tiền và đưa cho D1 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy trắng có chữ, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. D1 lấy một nửa số ma túy vừa mua được ra sử dụng, số ma túy còn lại D1 gói lại để mang đi bán cho Đ. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, D1 hỏi mua ma túy đá của Trần Xuân H (như đã nêu ở trên). Sau khi mua ma túy của H, D1 cầm số ma túy đá cất giấu cùng gói ma túy Heroine để mang đi bán cho Đ. D1 điều khiển xe ô tô đi đến điểm hẹn. Đến nơi, D1 thấy Đ nên dừng xe, Đoàn mở cửa xe ô tô của D1 ngồi ở ghế phụ phía trước. D1 đưa cho Đ 02 gói ma túy gồm 01 gói ma túy đá và 01 gói ma túy Heroine, Đ cầm 02 gói ma túy và đưa cho D1 số tiền 800.000 đồng rồi xuống xe. Sau đó, D1 điều khiển xe ô tô quay lại nhà H để sử dụng số ma túy đá đang gửi lại chỗ H (như đã nêu ở trên) còn Đ cầm 02 gói ma túy mua được của D1 đi bộ ra khu vực bờ tây sông V thuộc đường C, phố Y, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình để sử dụng.

Khi Đ vừa sử dụng hết số ma túy đá vừa mua được của D1 thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy phối hợp với Công an phường N, thành phố N phát hiện, thu giữ 01 mảnh giấy màu trắng, xanh có chữ, kích thước khoảng (8x8)cm; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ, kích thước khoảng (4x4)cm; 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc bên trong bám dính chất lỏng màu hồng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 chai nhựa cao khoảng 20cm, nắp chai đục hai lỗ nhỏ cắm ống hút nhựa dài khoảng 20cm và 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu dạng hình phễu bên trong bám dính tinh thể mầu trắng ngà) và 01 bật lửa ga màu đỏ. Đ khai nhận 02 mảnh giấy trên là gói đựng ma túy Heroine và ma túy đá mà Đ vừa mua của Nguyễn Tiến D1 và đã sử dụng hết. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của Đ 01 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0941.728.258. Đ khai mảnh giấy bạc màu vàng là gói đựng ma túy H4 đã sử dụng hết, gói ma túy này Đ mua của D1 vào ngày 27/8/2024. Tổ công tác tiến hành niêm phong 01 mảnh giấy màu trắng, xanh có chữ, kích thước khoảng (8x8)cm; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ, kích thước khoảng (4x4)cm; 01 mảnh giấy bạc màu vàng vào phong bì ký hiệu H1; 01 xilanh nhựa loại 3ml/cc bên trong bám dính chất lỏng màu hồng và 01 ống thủy tinh uốn cong một đầu dạng hình phễu bên trong bám dính tinh thể mầu trắng ngà vào phong bì ký hiệu H2.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến D1 tại số nhà C, ngõ A, đường P, phố C, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, thu giữ 01 thẻ nhớ nhãn hiệu NETAC 64GB bên trong chiếc camera ở phòng khách tầng 1.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N gửi giám định chất lỏng màu hồng bám dính trong xi lanh nhựa và chất tinh thể màu trắng ngà bám dính trong ống thủy tinh uốn cong một đầu dạng hình phễu được niêm phong trong phong bì ký hiệu H2 để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 779/KL-KTHS-MT ngày 12/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

  • Chất lỏng màu hồng bám dính trong xilanh nhựa gửi giám định là dung dịch có chứa ma túy, loại Heroine (H). Lượng chất lỏng bám dính ít, không xác định được thể tích (không xác định được khối lượng Heroine).

Heroine (H5) có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma túy thuộc Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

  • Chất tinh thể màu trắng ngà bám dính trong coóng thủy tinh là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng Methamphetamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H6 lại đối tượng giám định 01 xi lanh nhựa và 01 coóng thủy tinh.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSNDTPHL ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố bị cáo Trần Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 và điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Tiến D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Trần Đình L1, Nguyễn Việt T1, Vũ Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân H khai nhận ngày 04/9/2024 đã 04 lần bán ma tuý cho Nguyễn Tiến D1, Trần Đình L1, Nguyễn Việt T1, Vũ Văn B và để cho các đối tượng này sử dụng ma tuý tại nhà của mình ở số nhà H, đường N, phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo Nguyễn Tiến D1 khai nhận ngày 27/8/2024 và ngày 04/9/2024 đã bán ma tuý cho anh Vũ Công Đ tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Bị cáo Trần Đình L1, bị cáo Nguyễn Việt T1 khai nhận hành vi cất giấu 0,1360 gam ma tuý heroine; bị cáo Vũ Văn B khai nhận hành vi cất giấu 0,1646 gam ma tuý methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Công Đ khai: Đ là người sử dụng ma tuý đá và ma tuý heroin. Khoảng gần 11 giờ ngày 27/8/2024, Đ gọi điện cho D1 hỏi mua 500.000 đồng ma tuý heroin, D1 đồng ý bán, Đoàn hẹn D1 ở cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Sau đó, Đ đứng chờ tại cổng bệnh viện thì thấy D1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 35A-145.11 đi đến, Đ mở cửa lên ngồi ở ghế lái phụ. D1 đưa cho Đ 01 gói nhỏ giấy bạc mầu vàng, biết trong có ma tuý heroin, Đ cầm và đưa cho D1 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó Đ mang gói ma tuý đến khu vực bờ tây sông V pha chế sử dụng hết, còn lại mảnh giấy bạc Đoàn bỏ trong túi quần. Khoảng 13 giờ ngày 04/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Đ gọi điện thoại vào số 0966.722.xxx của D1 để hỏi mua 500.000 đồng ma tuý heroin và 300.000 đồng ma tuý đá, D1 đồng ý và hẹn Đ đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh N để bán ma tuý. Khoảng 30 phút sau, D1 điện thoại lại nói đã đến điểm hẹn, Đ đi bộ ra cổng bệnh viện thấy D1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 35A-145.11 đi đến, Đ mở cửa xe ngồi vào ghế lái phụ, D1 đưa cho Đ 02 gói nhỏ giấy mầu trắng có chữ và chỉ cho Đ xem gói nào là ma tuý đá, gói nào là ma tuý heroin, Đ đưa cho D1 số tiền 800.000 đồng, D1 cầm tiền đếm xong, Đ xuống xe. Đoàn mang số ma tuý mua được đi bộ ra khu vực bờ tây sông V sử dụng, khi vừa sử dụng hết thì bị kiểm tra, bắt giữ.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Trần Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Tiến D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Trần Đình L1, Nguyễn Việt T1, Vũ Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm d khoản 2 Điều 256, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Xuân H từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuý”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 14 năm 06 tháng tù đến 15 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 05/9/2024. Phạt tiền bổ sung từ 13.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D1 từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 05/9/2024. Phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đình L1, bị cáo Nguyễn Việt T1 mỗi bị cáo từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 05/9/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn B từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 05/9/2024.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: Số ma tuý còn lại hoàn trả sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu, được niêm phong trong 03 phong bì; 02 phong bì niêm phong vỏ gói ban đầu ký hiệu C và ký hiệu H1; 01 chai nhựa mầu trắng cao khoảng 20 cm, nắp chai mầu xanh đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa dài khoảng 40 cm thu của Trần Xuân H; 02 chiếc xi lanh loại 03 ml chưa qua sử dụng thu của Trần Đình L1; 01 chai nhựa cao khoảng 20 cm, nắp chai đục hai lỗ nhỏ cắm ống hút nhựa dài khoảng 20 cm và 01 bật lửa ga mầu đỏ thu của Vũ Công Đ cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung mầu trắng lắp sim 0986.766.679, số tiền 1.380.000 đồng thu giữ của Trần Xuân H, 01 điện thoại Samsung mầu xanh lắp sim số 0966.722.286, số tiền 900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tiến D1.

Trả lại cho Trần Xuân H số tiền 270.000 đồng, trả lại cho Nguyễn Việt T1 01 điện thoại Iphone mầu vàng lắp sim số 0947.520.135, trả lại cho bị cáo Trần Đình L1 số tiền 220.000 đồng.

Truy thu đối với bị cáo Nguyễn Tiến D1 số tiền 400.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Trần Xuân H, Nguyễn Tiến D1, Trần Đình L1, Nguyễn Việt T1 và Vũ Văn B trình bày nhất trí với nội dung luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo Trần Xuân H, Nguyễn Tiến D1, Trần Đình L1, Nguyễn Việt T1, Vũ Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của người chứng kiến, Biên bản kiểm tra nơi cư trú hồi 14 giờ 35 phút ngày 04/9/2024, Biên bản khám xét hồi 15 giờ 25 phút ngày 04/9/2024, Biên bản làm việc hồi 14 giờ 50 phút ngày 04/9/2024, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 09 giờ ngày 04/9/2024 đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Trần Xuân H đã 04 lần có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Đình L1, Vũ Văn B, Nguyễn Tiến D1 và Nguyễn Việt T1 tại nhà của mình ở số nhà H, đường N, phố V, phường T, thành phố N (nay là phường V, thành phố H), tỉnh Ninh Bình, cụ thể như sau: Lần thứ nhất vào khoảng 09 giờ ngày 04/9/2024, Trần Xuân H đã bán cho Trần Đình L1 190.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Lần thứ 2 vào khoảng 12 giờ cùng ngày, Trần Xuân H đã bán cho Vũ Văn B 490.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Lần thứ 3 vào khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Xuân H đã bán cho Nguyễn Tiến D1 300.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Lần thứ 4 vào khoảng 14 giờ cùng ngày, Trần Xuân H đã bán cho Nguyễn Việt T1 400.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Sau khi bán ma túy, H đã để cho L1, B, D1 và T1 cùng sử dụng ma túy tại nhà của mình. Trần Đình L1 và Nguyễn Việt T1 có hành vi cất giấu trái phép 0,1360 gam Heroine; Vũ Văn B có hành vi cất giấu trái phép 0,1646 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 27/8/2024 đến ngày 04/9/2024, Nguyễn Tiến D1 đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Công Đ tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh N tại đường T, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, cụ thể như sau: Lần thứ nhất vào khoảng 11 giờ ngày 27/8/2024, Nguyễn Tiến D1 đã bán cho Vũ Công Đ 01 gói Heroine lấy số tiền 500.000 đồng. Lần thứ 2 vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, Nguyễn Tiến D1 đã bán cho Vũ Công Đ 01 gói Heroine và 01 gói ma túy đá (Methamphetamine) lấy số tiền 800.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Trần Xuân H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2, Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Đình L1, bị cáo Nguyễn Việt T1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Vũ Văn B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

“Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

...

d) Đối với 02 người trở lên;

...”

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Xuân H có bố mẹ là người có công, được hưởng chính sách như thương binh; bị cáo Nguyễn Tiến D1 có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì, Huân chương kháng chiến hạng Nhì; khi sự việc bị phát hiện, bị cáo Nguyễn Việt T1, bị cáo Trần Đình L1 xin đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Việt T1 có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Vì vậy, các bị cáo Trần Xuân H,Nguyễn Tiến D1,Nguyễn Việt T1, Trần Đình L1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo Trần Xuân H đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi chữa bệnh bắt buộc, bị cáo Trần Đình L1, bị cáo Nguyễn Việt T1 đã nhiều lần bị xét xử, xử phạt vi phạm hành chính do hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo Nguyễn Tiến D1 và bị cáo Vũ Văn B chưa từng vi phạm pháp luật,

[2] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo Trần Xuân H, bị cáo Nguyễn Tiến D1 là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Trần Đình L1, Nguyễn Việt T1, Vũ Văn B là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, lành mạnh tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, tiềm ẩn nguy cơ có thể gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Việc đưa các bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định mức hình phạt cũng cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của từng bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo nhận thức sửa chữa sai lầm. Đối với bị cáo Trần Xuân H, sau khi quyết định hình phạt đối với từng tội danh cần áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 255 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đều quy định bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Đối với bị cáo Trần Xuân H, bị cáo Nguyễn Tiến D1 mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích vụ lợi, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Riêng bị cáo H có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản (có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú), cần giảm một phần hình phạt tiền đối với bị cáo. Đối với các bị cáo Trần Đình L1, Nguyễn Việt T1, Vũ Văn B đều người sử dụng ma túy, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân không có mục đích vụ lợi; các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với số ma túy còn lại hoàn trả sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu, được niêm phong trong 03 phong bì; 02 phong bì niêm phong vỏ gói ban đầu ký hiệu C và ký hiệu H1; 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 20cm, nắp chai màu xanh đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa dài khoảng 40cm thu của Trần Xuân H; 02 chiếc xi lanh loại 03ml chưa qua sử dụng thu của Trần Đình L1; 01 chai nhựa cao khoảng 20cm, nắp chai đục hai lỗ nhỏ cắm ống hút nhựa dài khoảng 20cm và 01 bật lửa ga màu đỏ thu của Vũ Công Đ cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 900.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0966.722.286 thu của Nguyễn Tiến D1; số tiền 1.380.000 đồng, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0986.766.679 thu giữ của Trần Xuân H đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện việc phạm tội và số tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 270.000 đồng thu giữ của bị cáo H, số tiền 220.000 đồng thu giữ của Trần Đình L1, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0947.520.xxx thu của Nguyễn Việt T1 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.

Đối với số tiền 400.000 đồng D1 có được từ việc bán ma tuý cho Vũ Công Đ ngày 27/8/2024, D1 đã tiêu xài cá nhân hết cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X biển kiểm soát 35B2-635.06 thu của Nguyễn Việt T1. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Đào Thị X (là mẹ của T1). Ngày 04/9/2024, T1 mượn chiếc xe của bà X để đi lại, bà X không biết việc T1 sử dụng chiếc xe mô tô này đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại tài sản cho bà X là có căn cứ, đúng quy định.

Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios biển kiểm soát 35A-145.11 thu của Nguyễn Tiến D1. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hồng K sinh năm 1945, trú tại phố F, phường Đ, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình là bố của chị Nguyễn Thị Bích N1 (vợ của D1). Ông K cho chị N1 mượn chiếc xe ô tô này để đi lại. Sau đó chị N1 có cho D1 mượn chiếc xe ô tô trên làm phương tiện để đưa đón con đi học. Chị N1 và ông K không biết việc D1 sử dụng chiếc xe ô tô này đi bán ma túy. Đối với 01 chiếc thẻ nhớ nhãn hiệu NETAC 64GB thu tại nơi ở của Nguyễn Tiến D1, quá trình điều tra xác định chiếc thẻ nhớ này là tài sản hợp pháp của chị N1, không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại các tài sản trên cho ông K và chị N1 là có căn cứ, đúng quy định.

Đối với 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung thu của Trần Xuân H. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của H, không liên quan đến việc phạm tội. Trần Xuân H đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thị D (là vợ của H) nhận lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại tài sản cho chị D là có căn cứ, đúng quy định.

Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung không lắp sim và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi lắp sim số 0987.522.758 và sim số 0898.581.132 thu của Vũ Văn B. Quá trình điều tra xác định các tài sản trên là tài sản hợp pháp của B, không liên quan đến việc phạm tội. B đã ủy quyền cho anh Vũ Văn Q sinh năm 1978 (là em trai của B) nhận lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại tài sản cho anh Q là có căn cứ, đúng quy định.

Đối với 01 chiếc xe đạp mini màu đỏ thu của Trần Đình L1. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Y. Ngày 04/9/2024, L1 mượn chiếc xe đạp của chị Y để đi lại, chị Y không biết việc L1 sử dụng chiếc xe đạp này đi mua ma túy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0382.883.665 và sim số 0788.075.823 thu của L1, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản hợp pháp của L1, không liên quan đến việc phạm tội. L1 đã ủy quyền cho chị Y nhận lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại các tài sản trên cho chị Y là có căn cứ, đúng quy định.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0941.728.258, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đặng Quốc H7 sinh năm 1986, trú tại phố G, phường Đ, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Sáng ngày 26/8/2024 Vũ Công Đ đã mượn của anh H7 để sử dụng. Anh H7 không biết việc Đ sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc mua ma túy của Nguyễn Tiến D1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại tài sản cho anh H7 là có căn cứ, đúng quy định.

[4] Những vấn đề có liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy Methamphetamine của Trần Xuân H, quá trình điều tra H khai mua của người nam giới không quen biết tại khu vực gần bến xe thành phố N (H không biết rõ tên tuổi, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.

Về nguồn gốc số ma túy Heroine của Trần Đình L1, quá trình điều tra L1 khai mua của người nam giới không quen biết tại khu vực bờ đê sông Đ thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định (L1 không biết rõ tên tuổi, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.

Về nguồn gốc số ma túy Heroine mà D1 bán cho Đ, quá trình điều tra D1 khai mua của người nam giới tên S1 nhà ở phường B, thành phố N (D1 không biết rõ tên tuổi, địa chỉ), S1 sử dụng số điện thoại 0942.864.xxx và 0359.071.810. Quá trình điều tra xác minh chủ số thuê bao 0942.864.596 là Trần Văn S1 sinh năm 1986, trú tại phố Đ, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; xác minh chủ s ố thuê bao 0359.071.810 là bà Nguyễn Thị D3 sinh năm 1952 (là mẹ của Trần Văn S1). Bà D3 khai nhận có đăng ký và sử dụng số thuê bao nói trên từ tháng 8/2020 cho đến khoảng giữa năm 2024 thì bà D3 cho S1 mượn để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập S1 đến làm việc nhiều lần nhưng S1 đều vắng mặt tại địa phương, bà D3 cho biết S1 đã bỏ nhà đi từ đầu tháng 9/2024. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến S1 để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Vũ Văn B,Nguyễn Việt T1,Trần Đình L1 và Nguyễn Tiến D1 là những người đã sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Trần Xuân H, Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B, T1, L1 và D1.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị tuyên có tội nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm d khoản 2 Điều 256, Điều 55, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Xuân H;

- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến D1;

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đình L1, bị cáo Nguyễn Việt T1;

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn B;

- Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố:

  • - Bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Bị cáo Nguyễn Tiến D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • - Bị cáo Trần Đình L1, bị cáo Nguyễn Việt T1, bị cáo Vũ Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Trần Xuân H 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (05/9/2024). Phạt tiền bổ sung 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D1 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ (05/9/2024). Phạt tiền bổ sung 8.000.000 (Tám triệu) đồng.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Đình L1, bị cáo Nguyễn Việt T1 mỗi bị cáo 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ (05/9/2024).
  • - Xử phạt bị cáo Vũ Văn B 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ (05/9/2024).

3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm: M1= 0,1014 gam; M3=0,6417 gam, đều là ma tuý loại Methamphetamine; M2=0,0818 gam là ma tuý loại Heroine; 01 ống thuỷ tinh một đầu hình phễu (coóng); 01 vỏ túi nilon, 01 đoạn ống hút nhựa mầu vàng, 02 xilanh nhựa loại 03 ml; 01 chai nhựa mầu trắng, nắp chai mầu xanh đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa dài khoảng 40 cm; 01 đoạn ống thuỷ tinh uấn cong một đầu dạng hình phễu (coóng); 01 xilanh nhựa loại 03 ml; 01 mảnh giấy mầu trắng xanh, có chữ; 01 mảnh giấy mầu trắng có chữ; 01 mảnh giấy bạc mầu vàng; 01 chai nhựa cao khoảng 20 cm nắp chai đục 02 lỗ nhỏ cắm ống hút nhựa dài khoảng 20 cm, 01 bật lửa ga mầu đỏ, cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, phong bì niêm phong ban đầu.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung mầu trắng lắp sim 0986.766.679, số tiền 1.380.000 (Một triệu, ba trăm, tám mươi nghìn) đồng thu giữ của Trần Xuân H, 01 điện thoại Samsung mầu xanh lắp sim số 0966.722.286, số tiền 900.000 (Chín trăm nghìn) đồng thu giữ của Nguyễn Tiến D1.

- Trả lại cho Trần Xuân H số tiền 270.000 (Hai trăm, bảy mươi nghìn) đồng.

- Trả lại cho Nguyễn Việt T1 01 điện thoại Iphone mầu vàng lắp sim số 0947.520.135.

- Trả lại cho bị cáo Trần Đình L1 số tiền 220.000 (Hai trăm, hai mươi nghìn) đồng.

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Tiến D1 số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/02/2025 và Uỷ nhiệm chi lập ngày 10/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư).

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Xuân H, Nguyễn Tiến D1, Trần Đình L1, Nguyễn Việt T1, Vũ Văn B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND TP Ninh Bình (1);
  • - Công an TP Ninh Bình (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP Ninh Bình (1);
  • - Bị cáo (5);
  • - Người có QLNV liên quan (1);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM DIỆU OANH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về vụ án hình sự về các tội mua bán trái phép chất ma tuý, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về các tội Mua bán trái phép chất ma tuý, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ 09 giờ ngày 04/9/2024 đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Trần Xuân H đã 04 lần có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Đình L1, Vũ Văn B, Nguyễn Tiến D1 và Nguyễn Việt T1 tại nhà của mình ở số nhà H, đường N, phố V, phường T, thành phố N (nay là phường V, thành phố H), tỉnh Ninh Bình, cụ thể như sau: Lần thứ nhất vào khoảng 09 giờ ngày 04/9/2024, Trần Xuân H đã bán cho Trần Đình L1 190.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Lần thứ 2 vào khoảng 12 giờ cùng ngày, Trần Xuân H đã bán cho Vũ Văn B 490.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Lần thứ 3 vào khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Xuân H đã bán cho Nguyễn Tiến D1 300.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Lần thứ 4 vào khoảng 14 giờ cùng ngày, Trần Xuân H đã bán cho Nguyễn Việt T1 400.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine). Sau khi bán ma túy, H đã để cho L1, B, D1 và T1 cùng sử dụng ma túy tại nhà của mình. Trần Đình L1 và Nguyễn Việt T1 có hành vi cất giấu trái phép 0,1360 gam Heroine; Vũ Văn B có hành vi cất giấu trái phép 0,1646 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 27/8/2024 đến ngày 04/9/2024, Nguyễn Tiến D1 đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Công Đ tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh N tại đường T, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, cụ thể như sau: Lần thứ nhất vào khoảng 11 giờ ngày 27/8/2024, Nguyễn Tiến D1 đã bán cho Vũ Công Đ 01 gói Heroine lấy số tiền 500.000 đồng. Lần thứ 2 vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, Nguyễn Tiến D1 đã bán cho Vũ Công Đ 01 gói Heroine và 01 gói ma túy đá (Methamphetamine) lấy số tiền 800.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger